Chương 9: Giấy báo trong rương
Khoảng 5 phút đọc·7lượt xem
Sáng mười bốn, ông Cửu Đạm cho người buộc một cái móc sắt vào đầu dây thừng, thả xuống giếng, móc cây kéo của bà nội lên. Rồi móc luôn cây đèn pin của bọ tôi. Ông đem cả hai sang nhà tôi, đặt lên cái chõng ở hiên, trước mặt bà nội.
"Đồ của người sống thì giếng không giữ. Bà Tư cất đi."
Ông nói nhỏ nhẹ, không trách. Bà nội ngồi im, nhìn cây kéo còn dính bùn khô ở mũi. Ông Cửu đứng thêm một lúc, rồi nói, như nói với bà mà mắt lại nhìn về phía tôi.
"Giếng chưa chỉ. Đêm ni mới chỉ."
Rồi ông về. Bà nội cầm cây kéo lên, lấy vạt áo lau từng chút bùn, lau đi lau lại một chỗ đã sạch từ lâu.
Tôi bật cây đèn pin. Nó vẫn sáng, nhưng ánh sáng vàng đục chứ không trắng như trước, như soi qua một lớp nước.
* * *
Cả ngày hôm ấy làng rộn như sắp có hội. Đàn ông dựng một cái rạp tre cạnh giếng, phủ lá cọ. Đàn bà gánh nước suối đổ vào mấy cái chum quanh rạp, chum nào cũng cài một cành lá bưởi.
Không ai sai tôi làm gì. Tôi đi tới đâu, người ta ngừng tay nhìn theo, rồi cúi xuống làm tiếp. Con Mai đầu cắt trọc lốc, đội cái nón lá sụp xuống tận mắt, đứng sau lưng mạ nó ở cổng đình. Nó nhìn tôi, rồi lấy tay kéo vành nón xuống thấp hơn nữa.
Mạ tôi lên đình từ sớm, góp gạo, góp đỗ, đứng nấu xôi với bà Cửu. Bà nội nằm trong buồng, nói đau đầu.
Tôi ở nhà một mình. Tôi đứng trước cái rương gỗ của mạ rất lâu.
Tôi muốn tìm chiếc áo cánh trắng. Tôi định đem nó ra sau vườn đốt đi. Không có áo thì không có lễ, tôi nghĩ vậy, một ý nghĩ trẻ con mà lúc ấy tôi tin là cứu được mình.
Tôi mở nắp rương.
* * *
Chiếc áo trắng nằm trên cùng, gấp vuông vắn. Bên dưới là mấy bộ quần áo mạ để dành đi đám cưới, đám giỗ. Dưới nữa là một xấp giấy tờ gói trong túi ni lông: giấy khai sinh của tôi, giấy kết hôn của bọ mạ, mấy lá thư bọ gửi từ bên Lào.
Và một phong bì màu nâu, góc trái in tên một trường sư phạm ngoài Vinh.
Phong bì đã bóc. Dấu bưu điện huyện Hương Khê, ngày hai mươi lăm tháng Tám. Mười ngày trước.
Tôi rút tờ giấy bên trong ra. Giấy báo nhập học. Ngành Ngữ văn. Tên tôi đánh máy rõ ràng, ngày sinh, quê quán. Ngày nhập học là mười lăm tháng Chín.
Tôi ngồi bệt xuống đất, cầm tờ giấy, đọc đi đọc lại. Tôi không vui được. Tôi chỉ nhớ đến lúc bưu tá đạp xe vào làng, nhớ mấy lần tôi chạy ra ngõ hỏi có thư không, mạ đều nói không.
Dưới phong bì có một tấm ảnh nhỏ đen trắng, cạnh đã quăn. Hai cô gái đứng cạnh nhau trước phông vải vẽ cây dừa, mặc áo cánh giống hệt nhau, tóc dài giống hệt nhau. Trên tóc hai người cài hai cái kẹp ba lê, giống hệt nhau. Sau tấm ảnh có hàng chữ viết bút bi: Hiền, Hạnh, hiệu ảnh Hương Khê, 1976.
Tôi nhìn mãi mà không biết ai là mạ tôi.
Ở góc rương, nhét giữa hai tấm áo, có một gói giấy bản nhỏ, buộc chỉ đỏ thắt nút. Tôi cầm lên. Nó nhẹ, mềm, bóp vào thấy xốp như bông. Tôi đang định gỡ nút chỉ thì nghe tiếng cổng tre kêu kẹt. Mạ về.
Tôi nhét gói giấy vào chỗ cũ, giữ lại tờ giấy báo trong tay, đóng nắp rương.
* * *
Mạ đứng ở cửa buồng, nhìn tờ giấy trên tay tôi. Mạ không giật lấy. Mạ đi vào, ngồi xuống cạnh tôi trên nền đất, vai mạ chạm vai tôi.
"Mạ định để qua rằm rồi đưa con."
Tôi hỏi mạ, qua rằm thì con còn đọc được không.
Mạ không trả lời. Mạ cầm lấy tờ giấy báo, vuốt cho thẳng những nếp gấp, rồi đọc. Mạ đọc rất chậm, môi mấp máy theo từng chữ như đứa trẻ mới học vần. Mạ đọc tới tên tôi thì dừng lại, ngón tay cái đặt lên đó, xoa nhẹ.
"Con gái mạ giỏi. Mạ biết con giỏi."
Rồi mạ gấp tờ giấy lại, nhét vào túi áo ngực của mạ, cài kim băng lại.
Tối hôm ấy mạ gội đầu cho tôi lần thứ ba. Mạ dùng hết chỗ nước suối còn lại trong chum, nhà không còn một giọt để nấu cơm sáng mai. Mạ chải tóc tôi bằng chiếc lược nhựa đỏ, chải từ chân tóc xuống ngọn, từng lọn, từng lọn. Những sợi tóc rụng mắc vào răng lược, mạ gỡ ra, không vứt đi mà cuộn lại trong lòng bàn tay.
Tôi để ý thấy vậy, mà không hỏi.
* * *
Đêm mười bốn, tôi định thức. Tôi ngồi dựa lưng vào vách, chiếc lược đỏ nắm chặt trong tay. Nhưng ba đêm không ngủ đã bào mòn tôi. Dế ngoài bờ rào kêu đều đều như ru, mắt tôi díp lại.
Tôi tỉnh dậy trong tiếng ròng rọc. Kẽo kẹt. Kẽo kẹt. Lần này nó không dừng lại sau khi kéo lên. Nó quay mãi, quay mãi, thả xuống rồi kéo lên, thả xuống rồi kéo lên, như có ai đang gánh nước cho cả một đám cưới. Tôi nằm im, mắt mở trừng trong bóng tối, cho tới khi gà gáy.
Sáng rằm tháng Bảy, tôi là người đầu tiên ra tới giếng.
Đáy giếng khô, nứt nẻ như mọi ngày. Vòng tròn mười hai món đồ nằm yên quanh thành giếng. Và ở chính giữa, trong cái hõm hình người ngồi quỳ, có một chiếc lược nhựa màu đỏ.
Nắng sớm rọi xiên xuống, tôi thấy rõ trên sống lược có hai con chim én in nổi. Răng thứ ba tính từ đầu chim én bị gãy, chỗ gãy nhọn như cái gai.
Tôi thò tay vào túi áo. Chiếc lược của tôi vẫn ở đó.