☾ Truyện Ma Có Thật
← Giếng làng cạn đáy

Chương 10: Hai chiếc lược

Khoảng 5 phút đọc·7lượt xem

Tôi không nhớ mình đứng bên thành giếng bao lâu. Chỉ nhớ là đến khi ngẩng lên thì sân giếng đã đông người. Họ đến lặng lẽ, không ai gọi ai, như được báo trước. Ông Cửu Đạm đứng ở đầu kia thành giếng, áo the đen, tay cầm ba nén hương chưa đốt.

Ông cúi nhìn xuống. Rồi ông ngẩng lên, nhìn tôi, nói rất khẽ, khẽ mà cả sân giếng đều nghe.

"Giếng chỉ rồi."

Không ai nói gì. Rồi bà Lự quỳ xuống. Bà quỳ ngay trên nền đá ong nóng, hai tay chắp trước ngực, cúi đầu về phía tôi. Thím Lài quỳ theo. Ông Hai Thuyên quỳ. Mạ con Mai quỳ, cúi rạp đầu chạm đất, lưng run lên từng đợt. Cả sân giếng lần lượt quỳ xuống, như một ruộng lúa rạp dưới gió.

Chỉ còn tôi và ông Cửu đứng.

Tôi muốn nói với họ là tôi chưa đánh mất chiếc lược nào. Rằng chiếc lược của tôi vẫn nằm trong túi áo tôi. Tôi rút nó ra, giơ lên cho họ thấy. Không ai ngẩng đầu nhìn.

* * *

Ông Cửu sai người buộc móc sắt vào dây, thả xuống giếng, móc chiếc lược ở đáy lên.

"Đồ của người được chỉ thì móc lên. Để người nớ tự tay cầm xuống."

Chiếc lược lên tới miệng giếng, ông Cửu gỡ ra khỏi móc, đặt vào lòng bàn tay tôi. Nó lạnh như đá. Ướt sũng, dù đáy giếng khô nứt. Giữa các răng lược quấn đầy tóc. Tóc đen, dài, mềm, cuộn vào nhau thành một nắm. Tôi đưa lên mũi. Mùi bồ kết với lá sả.

Tôi đặt hai chiếc lược cạnh nhau trên lòng bàn tay. Giống hệt. Cùng màu đỏ trong, cùng hai con chim én. Tôi lấy ngón cái dò tìm cái răng gãy trên chiếc ướt, và nó đâm vào thịt, một giọt máu rịn ra, loang hồng trong nước đọng giữa các răng lược. Chiếc khô thì ấm hơi người. Chiếc ướt lạnh, đầy tóc, và giờ có máu tôi.

Tôi nhìn hai chiếc lược mà không biết chiếc nào mới là của mình.

* * *

Bà nội tôi chen qua đám người đang quỳ. Bà nhìn xuống lòng bàn tay tôi, rồi bà kêu lên một tiếng. Không phải khóc. Một tiếng kêu khô và ngắn, như tiếng cành củi bị bẻ gãy. Rồi bà quay người, đi thẳng về phía đình, đi nhanh đến mức vấp ngã ở bờ ruộng, đứng dậy đi tiếp, không phủi bụi.

Mạ tôi đến sau cùng.

Mạ không chen vào. Mạ đứng ngoài vòng người, nhìn tôi qua đầu những người đang quỳ. Mạ không ngạc nhiên. Mặt mạ như mặt người đứng ở bến, thấy chuyến đò mình chờ đã cập.

Mạ đi tới, ôm tôi. Mạ ôm chặt, hai cánh tay siết quanh lưng tôi, cằm tì lên đỉnh đầu tôi. Mạ không khóc.

"Về nhà mạ chải đầu cho con."

* * *

Buổi trưa, khi mạ lên đình góp lễ, tôi trốn.

Tôi đi cửa sau, chạy qua vườn chuối khô héo, băng qua cánh đồng nứt nẻ. Mặt ruộng nứt thành những khe sâu, tôi vấp liên tục, đá vỡ những tảng đất như đá vỡ những viên gạch nung. Nắng đổ xuống đỉnh đầu, rát như ai dội nước sôi. Quốc lộ cách làng bốn cây số, chỗ ngã ba có quán nước của bà Hòe, xe khách ra Vinh chiều nào cũng đi ngang.

Giữa cánh đồng, có mấy người làng đang đào rãnh tìm nước. Họ thấy tôi chạy qua. Họ dừng tay, đứng thẳng lưng, nhìn theo. Không ai đuổi. Không ai gọi. Họ chỉ đứng đó, cầm cuốc, nhìn tôi chạy, như nhìn một con chim sẻ bay ra khỏi lồng mà biết chắc nó sẽ tự bay về.

Chính cái việc không ai đuổi làm tôi sợ hơn cả.

Tôi chạy tới ngã ba thì kiệt sức, ngồi bệt xuống bậc đất trước quán bà Hòe. Quán đóng cửa. Một chiếc xe khách đỗ ở bên kia đường, khách đang xuống. Trong đám khách có thím Lài, quần áo bụi đỏ, tay xách cái làn mây. Thím vừa ra Vinh thăm thằng Tâm, giờ mới về.

Thím thấy tôi. Thím đặt cái làn xuống, đi sang, ngồi xuống cạnh tôi. Thím không hỏi tôi chạy đi đâu. Thím chỉ ngồi cạnh tôi một lúc, thở dốc vì nắng.

"Thằng Tâm hắn khóc. Hắn đòi về... đi thay mi. Con trai, giếng có nhận mô."

Tôi nói con đi. Con ra Vinh. Con đi học. Thím Lài nhìn ra con đường nhựa bốc hơi mờ mờ.

"Mi đi thì đêm ni giếng chỉ lại. Con Mai tóc cắt rồi, giếng chê. Thì con Nga. Hay bà nội mi. Mi muốn rứa à?"

Thím nói không phải để dọa. Thím nói như người kể một chuyện ai cũng biết.

Chiếc xe khách nổ máy, rồ lên, chạy đi về phía Vinh. Tôi ngồi nhìn theo cho tới khi nó chỉ còn là một chấm bụi trên đường. Rồi tôi đứng dậy, đi bộ về làng. Thím Lài đi bên cạnh, xách giùm tôi đôi dép tôi đã đánh rơi lúc nào không biết.

* * *

Tôi về tới nhà khi mặt trời đã ngả về phía núi. Mạ ngồi ở hiên, như đã ngồi đợi từ lâu. Trước mặt mạ, trên mặt chõng tre, là chiếc lược ướt tôi để quên trên bàn lúc chạy trốn.

Mạ chìa tay ra. Tôi móc chiếc lược khô trong túi áo, đặt vào tay mạ. Mạ đặt nó xuống cạnh chiếc lược ướt, ngay ngắn, song song, như người ta đặt đôi đũa trên bàn thờ.

Mạ chỉ vào chiếc ướt.

"Cái ni con cầm xuống."

Rồi mạ cầm chiếc khô lên, nhét vào túi áo ngực, cạnh tờ giấy báo nhập học, cài kim băng lại.

"Cái ni mạ giữ."