Chương 4: Cái cọn nước
Khoảng 4 phút đọc·4lượt xem
Tuần ấy trời mưa dầm. Mưa kiểu miền núi, không to, không dứt, cả ngày như sương nặng hạt. Mái ngói kho dột một chỗ ở góc giá số năm, tôi phải lấy chậu nhôm hứng. Suối sau kho lên to, nước đục ngầu, chảy ồ ồ suốt đêm.
Tập hồ sơ vẫn ra bàn mỗi sáng. Không phải sáng nào cũng có. Có hôm nó nằm yên trong tủ, tôi mở khoá ra thấy nó còn nguyên nút buộc gỗ, thở ra được một hơi. Hôm sau nó lại nằm trên bàn, mở ở một trang khác.
Sáng thứ Tư, trang mở là một tờ giấy khổ to gấp làm bốn, đã được giở phẳng. Một bản vẽ tay bằng bút chì, nét run. Đầu tờ ghi "Sơ đồ hiện trường".
Tôi nhìn một lúc mới hiểu. Một đường cong uốn từ trên xuống là suối Pheo. Giữa suối có một hình tròn chia nan như bánh xe, ghi chữ "cọn nước", cạnh đó một dấu nhân và mũi tên: "vị trí phát hiện tử thi". Bên kia suối là mấy hình vuông nhỏ ghi "nhà sàn". Phía trên, chỗ suối uốn khúc, có một mảng chấm chi chít ghi "rừng nứa". Và cuối khúc uốn, ở bờ bên này, một hình bầu dục ghi "bãi đá đầu bản".
Dấu ngón tay ướt nằm trên bãi đá. Không phải một dấu. Ba dấu, chồng lên nhau, ấn đi ấn lại vào cùng một chỗ, đến mức chữ "bãi đá" bị nhoè thành một vệt chì xám.
* * *
Bản tôi cũng có cọn nước. Cái bánh xe tre to hơn cả nhà sàn, đặt giữa dòng suối, nước đẩy cho quay, những ống nứa buộc quanh vành múc nước lên đổ vào máng dẫn ra ruộng. Ban đêm cọn kêu cót két, đều đều, trẻ con trong bản ngủ quen với tiếng ấy. Hồi bé tôi sợ cái cọn, vì mẹ dặn không được ra gần, nó cuốn người vào nan là không gỡ ra được.
Tôi nghĩ đến một người đàn ông nằm chết ở chân cọn nước, nan tre quay qua người suốt đêm.
Chiều hôm ấy tôi mang sang chòi ông Thể một gói thuốc lào Tiên Lãng. Ông nhận, nhồi một điếu, rít, thở khói ra rất lâu. Tôi hỏi ông có biết bản Pheo không.
"Biết. Bên tê đèo. Đường đi khó."
Tôi hỏi ông có biết ông Sính không. Ông gõ điếu cày vào chân ghế.
"Ai bên nớ nỏ biết. Nhà hắn to nhất bản. Hắn mua quế, mua nứa, mua mật ong, mua cả gỗ. Người trong bản nợ hắn, đứa nớ đứa tê. Chết ở cọn nước, đầu bị đập sống dao."
Tôi hỏi người ta bắt anh Lâm vì sao. Ông Thể nhìn ra cổng, nơi trời mưa lất phất.
"Vì có người trông thấy."
Tôi hỏi ai trông thấy. Ông Thể đứng dậy đi đóng cổng, dù chưa đến giờ đóng.
* * *
Tôi quyết định thử một cách. Tối thứ Năm trước khi về, tôi mua một hộp phấn rôm trẻ con. Tôi rắc một lớp mỏng quanh chân bàn, dọc lối từ tủ sắt ra bàn, và rắc lên chính mặt bàn. Tôi khoá tủ, khoá cửa sổ, khoá cửa kho. Tôi nhờ ông Thể dán một mẩu giấy ngang khe cửa, ký tên lên.
Sáng thứ Sáu, mẩu giấy còn nguyên. Tôi mở cửa.
Lớp phấn rôm dưới sàn trắng mịn, không một dấu chân. Không có dấu chân nào từ cửa ra, không có dấu chân nào từ tủ đến bàn. Nhưng từ khung cửa sổ đến mép bàn có một hàng chấm tròn nhỏ, sẫm màu, cách nhau đều, như nước nhỏ từ một vật gì đó được mang đi ngang qua.
Cửa sổ vẫn cài chốt. Bên ngoài song sắt là bờ suối.
Tập hồ sơ nằm trên bàn, mở ở trang sơ đồ. Lớp phấn trên mặt bàn có những vệt quệt dài, như người ta vuốt tay để giở trang. Và trên tờ sơ đồ, phấn rôm bám vào những chỗ ướt, làm hiện lên rõ từng đường vân ngón tay quanh bãi đá. Những vân tay to, thô, của người làm việc nặng.
Tôi quét phấn đi. Tôi lau bàn. Tôi không dám nói với ai.
* * *
Tối thứ Sáu tôi ở lại muộn để ghi cho xong sổ năm 1990. Anh Quang dặn thứ Hai phải nộp. Ngoài trời mưa đã ngớt, nhưng mái kho vẫn rỏ nước xuống cái chậu nhôm, tách, tách, đều đều. Bóng đèn tròn trên trần vàng đục.
Lúc ấy tôi để ý suối im.
Không phải im hẳn. Nước vẫn chảy. Nhưng ếch nhái dưới bờ suối, lũ dế ở chân tường, con tắc kè hay kêu trên mái ngói, tất cả im cùng một lúc. Như có ai đi qua chỗ chúng ngồi.
Rồi tôi nghe sau lưng có tiếng giấy.
Tiếng một trang giấy cũ được lật. Khô, giòn, chậm. Một lúc sau, trang nữa. Tiếng ấy phát ra từ cái tủ sắt bên trái, cái tủ có khoá Việt Tiệp, cái tủ mà hai chìa khoá đang nằm trên ngực tôi.
Tôi không quay lại. Tôi gấp sổ, đứng dậy, đi thẳng ra cửa, khoá cửa, đi qua sân, qua chòi bảo vệ, về phòng. Tôi không nhớ mình đã đi nhanh hay đi chậm. Tôi chỉ nhớ khoá cửa phòng xong tôi ngồi bệt xuống sàn.
Ngực tôi lạnh. Tôi thò tay vào áo.
Hai cái chìa khoá ướt sũng. Nước lạnh từ chúng chảy thành dòng xuống bụng tôi, như vừa được ai nhúng xuống suối rồi đeo trả lại vào cổ.