☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng thưa thứ mười tám

Chương 3: Bậc cửa khô

Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem

Tháng Mười, sương bớt đặc vào buổi trưa, nhưng sáng và chiều thì vẫn kín. Tôi bắt đầu đi vận động. Ở điểm trường vùng cao, dạy là một nửa việc. Nửa kia là đến từng nhà xin bố mẹ cho con đi học, mùa bẻ ngô thì xin lại từng đứa.

Lủng Chá có hai mươi sáu nóc nhà, rải trên ba quả đồi. Nhà nào cũng tường đất, mái ngói hoặc mái tranh, hàng rào đá xếp quanh. Người lớn tiếp tôi tử tế, mời rượu, mời mèn mén, gật đầu hứa cho con đi học đều. Nhưng khi tôi nhắc đến thầy Thiện, hoặc hỏi sao lớp mở lại muộn thế, họ nói chuyện khác. Hoặc họ nói tiếng Mông với nhau, rồi cười, rồi rót rượu.

Có một bà cụ ở nóc nhà gần trường nhất, cách chừng ba trăm thước, bọn trẻ gọi là bà Già Mỷ. Bà sống một mình, chồng con chết hết, nuôi hai con dê. Bà không nói được tiếng Kinh. Hôm tôi ghé, bà cầm tay tôi lật lên nhìn lòng bàn tay rất lâu rồi lắc đầu, nói một câu gì đó.

Tôi về hỏi Chở câu ấy nghĩa là gì. Chở nghe xong, cúi xuống.

"Bà bảo tay thầy ấm. Tay thầy ấm thì thầy đừng ở lâu."

* * *

Tôi hỏi ông Pó còn nhà nào có trẻ mà chưa ra lớp. Ông nghĩ rồi nói còn nhà Vàng Chứ Dìn bên Lũng Sủi, cách Lủng Chá một cái dốc và một cái thung, đi mất hai tiếng.

"Nhà ấy có đứa nào đi học không ạ?"

"Có một đứa."

Tôi mở sổ bàn giao. Sổ chỉ ghi tên, không ghi nhà ở đâu. Tôi hỏi đứa nào. Ông Pó đứng dậy ra sân, nói với vào.

"Thầy đừng sang bên ấy. Dốc Sủi mùa này trơn. Năm ngoái có đứa trẻ con chết ở dốc ấy rồi."

Tôi hỏi chết thế nào. Ông nói chết rét. Ông nói thêm một câu nữa, ngắn, rồi đi hẳn.

"Nó đi học."

* * *

Tôi bắt đầu làm thử nhiều cách khi điểm danh.

Tôi đọc tên theo thứ tự ngược. Tiếng thưa thừa vẫn đến sau tên cuối cùng, dù tên cuối cùng là đứa nào. Tôi đọc tên rồi dừng giữa chừng, không đọc nữa, mở bài giảng luôn. Nó không thưa. Tôi đọc hết, gập sổ, nó thưa. Nó không thưa sau một cái tên nào cả. Nó thưa sau khi tôi hết tên.

Như một đứa trẻ biết mình không có tên trong sổ, chờ thầy đọc xong, rồi tự thưa lấy.

Tôi thử không điểm danh. Hai ngày liền, tôi vào lớp là dạy luôn. Ngày thứ nhất, bọn trẻ ngọ nguậy, nhìn nhau, không yên. Ngày thứ hai, Chở đứng dậy giữa giờ tập đọc. Nó không xin phép. Nó nói, giọng nhỏ nhưng rõ:

"Thầy điểm danh đi."

Tôi hỏi sao phải điểm danh. Nó không trả lời. Mười sáu đứa kia cũng nhìn tôi. Tôi mở sổ. Tôi đọc mười bảy tên. Và tôi đợi.

"Có à."

Chở ngồi xuống. Lớp yên trở lại. Tôi nghe rõ tiếng mình thở.

Đêm hôm ấy tôi nằm nghĩ mãi về cái cách Chở nói. Không phải giọng xin. Giọng nhắc. Như nhắc người lớn một việc phải làm cho một đứa bé hơn, mà người lớn vô ý quên.

* * *

Chiều hôm sau tôi xuống suối gánh nước, về muộn. Sương chiều xuống nhanh, trắng đục, lạnh buốt tai. Từ con dốc nhỏ dưới sân nhìn lên, cái điểm trường chỉ còn là một khối tối, cây sa mộc là một vệt đen nhoè.

Ở bậc cửa lớp có một đứa trẻ ngồi.

Nhỏ. Co ro. Hai tay kẹp giữa hai đầu gối. Đầu cúi xuống, đội một cái mũ gì đó tối màu. Chân để trần trên bậc đá, hai bàn chân nhỏ đặt sát nhau. Nó ngồi quay mặt vào cánh cửa đóng, lưng về phía tôi, như đang chờ cửa mở.

Tôi gọi, em ơi. Giọng tôi bị sương nuốt. Đứa trẻ không quay lại. Tôi đặt gánh nước xuống, bước lên dốc. Mười bước. Năm bước.

Bậc cửa trống.

Không có tiếng chân chạy, không có bóng nào vụt vào sương. Chỉ có bậc đá, cánh cửa, cái then gỗ tôi cài lúc đi.

Tôi cúi xuống nhìn bậc cửa. Cả cái hiên ướt đẫm sương, đá đen bóng nước, tường đất sẫm lại vì ẩm. Riêng một khoảng trên bậc đá, chỗ đứa trẻ vừa ngồi, khô. Khô trắng. Bằng đúng một cái mông trẻ con và hai bàn chân nhỏ đặt sát nhau.

Tôi đặt tay vào. Chỗ ấy lạnh hơn đá xung quanh. Lạnh như sờ vào băng.

Tôi đứng dậy, mở cửa, vào lớp, thắp đèn. Rồi tôi ngồi nhìn cái bậc cửa qua khe ván đến khi trời tối hẳn, và chỗ khô ấy vẫn chưa ướt.