☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng thưa thứ mười tám

Chương 4: Sổ điểm danh cũ

Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem

Tôi tìm thấy quyển sổ của thầy Thiện vào một chiều mưa, lúc lên sửa mái.

Ngói âm dương xô, nước dột đúng chỗ giường tôi nằm. Tôi bắc thang trèo lên, luồn tay vào khoảng tối giữa mái và tường để kê lại viên ngói. Tay chạm vào một cái gói. Ni lông bọc nhiều lớp, buộc dây chun. Bên trong là một quyển sổ điểm danh in sẵn của phòng giáo dục, bìa xanh, góc đã quăn, mùi thuốc lào ngấm vào giấy.

Năm học 2004 và 2005. Điểm trường Lủng Chá. Giáo viên: Nguyễn Văn Thiện.

Tôi lật trang danh sách. Mười bảy tên viết bằng mực xanh, chữ nghiêng, đều tay. Phần lớn là mười bảy đứa của tôi, trừ ba đứa lớp ba năm ngoái giờ đã xuống xã học lớp bốn, và ba đứa lớp một năm nay mới vào. Vàng Thị Chở ở hàng thứ mười hai, lớp hai.

Dưới hàng thứ mười bảy, dưới cả cái gạch ngang kết thúc danh sách, có một tên viết bằng bút chì.

Vàng Mí Sính. Lũng Sủi. Không ghi lớp. Bên cạnh là một chữ nhỏ, cũng bút chì, bị tẩy dở: ngồi nhờ.

* * *

Tôi lật sang phần chấm công từng ngày.

Mười bảy hàng mực xanh đều đặn, có mặt, vắng, có mặt, vắng có phép. Hàng thứ mười tám bằng bút chì không có dấu gì. Tháng Chín, tháng Mười, tháng Mười một, tháng Mười hai, tháng Một. Trống trơn. Cả trăm buổi học, hàng ấy không một lần được chấm. Như thể thầy Thiện ghi cái tên xuống cho nhớ, rồi quên nó nằm đấy.

Tôi lật tiếp. Tháng Hai năm 2005. Tết âm lịch rơi vào ngày mùng chín tháng Hai. Lịch nghỉ Tết ghi ở lề: nghỉ đến hết mùng ba, mùng bốn mở lớp.

Mùng bốn, mùng năm, mùng sáu Tết, tức là mười hai, mười ba, mười bốn tháng Hai. Ba cột liền. Mười tám hàng đều có dấu có mặt. Cả hàng thứ mười tám. Lần đầu tiên và cũng là ba lần duy nhất trong cả năm học, cái tên bút chì ấy được chấm có mặt.

Mực của ba cột ấy khác mực các cột trước. Đậm hơn, xanh đen chứ không xanh. Nét ấn mạnh, mười tám dấu của một cột giống hệt nhau, cột sau cũng giống cột trước như in, như người ta ngồi chấm một mạch cả ba cột trong một lúc. Dấu cuối cùng của hàng thứ mười tám hơi lệch xuống, kéo dài ra, như tay người chấm đã run.

Sau ngày mười bốn tháng Hai, sổ trống. Không một dấu nào nữa cho đến hết năm.

Tôi ngồi với quyển sổ ấy đến lúc mưa tạnh. Tôi hiểu một đứa trẻ đã ngồi nhờ trong lớp này năm tháng mà không có tên. Tôi hiểu ba ngày sau Tết có chuyện gì đó. Tôi chưa hiểu gì hơn.

* * *

Tôi mang quyển sổ sang nhà ông Pó.

Ông nhìn bìa sổ, không mở. Ông rót rượu, uống một chén, rồi mới nói. Ông nói bằng cái giọng của người kể một việc đã kể nhiều lần trong đầu nhưng chưa nói ra miệng.

"Thằng Sính con ông Dìn bên Lũng Sủi. Bảy tuổi. Nhà nó chưa làm giấy khai sinh cho nó nên không vào sổ được, thầy Thiện cho ngồi nhờ. Nó thích đi học lắm. Mùng sáu Tết năm ngoái trời sương muối, nó đi học một mình, chết rét ở dốc Sủi. Người ta tìm thấy nó buổi trưa, nằm co dưới gốc sa mộc, như ngủ."

Tôi hỏi sao mùng sáu trời rét thế mà vẫn đi học.

"Thầy Thiện xuống xã ăn Tết, mùng bốn không lên mở lớp. Mùng năm cũng không. Trẻ con đến rồi về. Tôi đi báo các nhà là thầy chưa lên, cho trẻ ở nhà. Lũng Sủi xa quá. Tôi không sang."

Ông uống chén nữa.

"Sáng mùng sáu thầy mới lên. Lên rồi thì nghe tin."

Tôi hỏi ông còn gì nữa không. Ông nhìn tôi một lúc lâu, rồi lắc đầu. Rồi ông nói một câu mà tôi nghĩ ông đã định nói từ hôm dẫn tôi lên điểm trường.

"Thầy đừng gọi tên nó trong lớp. Gọi rồi thì nó biết nó có tên. Nó biết thì nó không về nhà nữa đâu."

* * *

Đêm ấy tôi để quyển sổ trên bàn, mở ở trang tháng Hai, và không ngủ.

Gần bốn giờ, kẻng. Một. Hai. Ba.

Tôi nằm đếm như mọi khi. Nhưng lần này, sau tiếng thứ ba, có thêm một tiếng nữa.

Không phải tiếng kẻng. Một tiếng cạch nhỏ, khô, của gỗ chạm vào sắt. Tiếng khúc gỗ nghiến được treo lại lên cái đinh.

Rồi tiếng chân. Nhẹ, trần, trên đất sân ướt. Đi từ gốc sa mộc về phía cửa lớp. Dừng ở bậc cửa.

Tôi nằm cứng người trong chăn. Tôi nghe thấy cái then gỗ ngoài cửa lớp khẽ rung, như có bàn tay nhỏ đặt lên đẩy thử. Rồi thôi. Rồi im.

Sáng ra, trên mặt bàn của tôi, trang sổ tháng Hai vẫn mở. Nhưng ở hàng thứ mười tám, cột ngày mười bốn, cái dấu có mặt bằng mực xanh đen bị nhoè. Nhoè ướt, như có một giọt nước vừa rơi lên đó. Trần nhà chỗ ấy tôi đã sửa. Không dột.