Chương 7: Tên trong sổ
Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem
Sáng hôm ấy tôi điểm danh trước khi làm bất cứ việc gì. Mười bảy đứa ngồi im, không đứa nào nghịch, như chúng biết.
Tôi mở sổ. Tôi đọc hàng thứ nhất.
"Vàng Mí Sính."
Không có gì. Bếp củi nổ một tiếng. Ngoài sân sương muối đang tan, nước nhỏ từ mái ngói xuống bậc đá, tí tách.
Tôi đọc lại, to hơn. Chở ở bàn cuối ngồi thẳng lưng, hai tay nắm chặt trên mặt bàn.
Không có gì.
Tôi đọc tiếp mười bảy tên. Có ạ, có ạ, có ạ. Đến Giàng Thị Pà. Có ạ. Tôi gập sổ.
"Có à."
Vẫn từ bậc cửa. Vẫn nhỏ, khàn, vẫn chữ à. Y như trăm buổi trước. Như tôi chưa hề gọi tên nó.
Chở úp mặt xuống bàn. Vai nó rung. Nó không thành tiếng. Lử ngồi bàn đầu quay lại nhìn chị rồi quay lên nhìn tôi, mắt tròn, chờ tôi làm gì đó. Tôi không biết làm gì. Tôi quay lên bảng viết ngày tháng, và chữ của tôi lệch hết cả dòng.
* * *
Tôi thử thêm một tuần. Tôi gọi tên nó đầu tiên, nó không thưa. Tôi gọi tên nó cuối cùng, sau Giàng Thị Pà. Im lặng. Rồi tôi gập sổ. Rồi nó thưa.
Tôi gọi tên nó hai lần, ba lần, chậm, rõ, đứng ở bậc cửa mà gọi. Không có gì. Tôi gập sổ. Có à.
Nó không thưa khi tôi gọi tên nó. Nó thưa khi tôi hết tên.
Tôi hiểu dần, cái hiểu đến từng mảnh như sương tan. Trong năm tháng đi học, chưa có ai gọi tên nó trong lớp này. Nó không biết tiếng gọi tên là thế nào. Nó chỉ biết có một lúc thầy đọc xong, gập sổ, và lúc ấy nó được nói có. Nó giữ cái lúc ấy. Nó quay lại cái lúc ấy mỗi sáng. Tôi gọi tên nó, với nó, chỉ là một tiếng người lớn nói gì đó không liên quan đến nó.
Tôi ngồi một mình trong lớp sau giờ học, nhìn dòng chữ mực xanh ở hàng thứ nhất, và lần đầu tiên từ khi lên Lủng Chá tôi khóc.
* * *
Ông Pó biết chuyện từ bọn trẻ. Ông lên lớp lúc chiều, không vào, đứng ở sân.
"Thầy gọi rồi à."
Tôi nói rồi. Ông thở dài, cái thở dài của người đã đoán trước.
"Vậy thì nó không về nữa. Thầy gọi nó ở đây, thầy phải ở đây với nó. Thầy có ở được không."
Tôi nói tôi không biết. Ông nhìn tôi, rồi nói một câu mà mãi sau này tôi mới hiểu hết.
"Thầy Thiện cũng không ở được."
* * *
Hôm sau tôi đưa Chở sang nhà bà Già Mỷ. Tôi muốn hỏi bà một việc, mà tôi cần Chở dịch.
Bà ngồi bên bếp, hai con dê buộc ở cột. Tôi hỏi mùng sáu Tết năm ngoái bà có nghe thấy gì không. Chở dịch. Bà im một lúc lâu, rồi nói, dài, tay làm hiệu.
Chở dịch lại, ngập ngừng, có chỗ nó dịch rồi nhìn tôi như hỏi có nên dịch không.
"Bà bảo sáng ấy rét lắm, bà không ra khỏi chăn. Trời chưa sáng, bà nghe kẻng. Ba tiếng. Tiếng nhỏ, cao, bà biết là thằng Sính đánh, nó vẫn đánh thế. Bà nghĩ, à, thầy về rồi, lớp mở rồi. Bà quay ra ngủ tiếp."
Tôi hỏi rồi bà còn nghe gì nữa không.
"Một lúc sau bà nghe tiếng người đi ngoài đường, tiếng ủng. Bà nghĩ là thầy. Rồi bà không nghe gì nữa. Đến trưa người ta kêu bên dốc Sủi, bà mới biết."
Tôi hỏi bà có nói chuyện này với ai không. Bà lắc đầu, nói một câu ngắn. Chở dịch:
"Bà bảo bà già rồi, bà chỉ nghe thấy chứ có nhìn thấy đâu."
Trên đường về, tôi đi chậm. Nó đánh kẻng lúc trời chưa sáng. Vậy là nó đến. Nó đến nơi, cởi dép, đánh kẻng, ngồi xuống bậc cửa chờ. Rồi vì sao nó ở dốc Sủi. Rồi tiếng ủng.
Chở đi cạnh tôi, không nói. Đến sân trường nó dừng lại, nhìn bậc cửa, rồi nhìn tôi.
"Thầy đừng ra mở cửa."
Tôi hỏi mở cửa gì.
"Đêm. Nó gọi thì thầy đừng mở. Thầy Thiện mở rồi."
Nó không giải thích. Nó vào lớp ngồi. Tôi đứng ngoài sân, trong đầu lặp đi lặp lại cái câu ấy, và tôi không dám hỏi nó mở rồi thì sao.
* * *
Đêm ấy không có kẻng.
Nhưng gần bốn giờ, tôi nghe tiếng chân. Trần, nhẹ, trên sân đóng sương muối, mỗi bước là một tiếng vỡ rất nhỏ. Từ phía dốc đi lên. Qua gốc sa mộc, không dừng. Đến bậc cửa.
Rồi một tiếng gõ. Vào cánh cửa lớp. Bằng bàn tay nhỏ, gõ hai cái, rụt rè.
"Thầy ơi."
Tôi ngồi dậy trên giường. Tôi không thở.
"Thầy ơi. Em đến rồi."
Giọng con trai bé, khàn, nói chữ ơi kéo dài. Giọng của tiếng thưa thứ mười tám. Lần đầu tiên nó nói nhiều hơn một chữ.
"Thầy mở cửa cho em. Ngoài này lạnh."
Tôi ngồi, hai tay bấu lấy mép giường. Tôi nghĩ đến câu Chở nói. Tôi nghĩ đến một đứa trẻ bảy tuổi đi hai tiếng trong sương muối, chân trần, đứng ngoài cửa lớp gọi thầy. Tôi nghĩ nếu tôi là người, tôi phải đứng dậy mở cửa.
Tôi không đứng dậy.
Nó gọi đến lúc gà bên nhà bà Già Mỷ gáy. Không to lên, không khóc, không đập cửa. Chỉ gọi, cách quãng, bằng một giọng ngày càng khẽ, như đứa trẻ đã lạnh đến mức không còn sức để gọi to. Rồi im.
Sáng ra, trên cánh cửa, không phải một bàn tay nữa. Hai bàn tay. Và dưới chúng, trên bậc đá, một khoảng khô bằng đúng một đứa trẻ ngồi co.
Tôi đánh kẻng muộn hôm ấy. Tay tôi không nhấc nổi khúc gỗ nghiến.