☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng thưa thứ mười tám

Chương 8: Đêm sương muối

Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem

Giữa tháng Mười hai, đài báo không khí lạnh tăng cường, vùng núi cao Hà Giang có nơi dưới không độ. Phòng giáo dục nhắn qua ông Pó: dưới mười độ cho học sinh nghỉ, giáo viên phải báo đến từng hộ.

Tôi đi báo. Hai mươi sáu nóc nhà, tôi đi cả ngày, đến đâu cũng nói rõ: rét thì nghỉ, bao giờ ấm thầy đánh kẻng ba hồi dài. Tôi sang cả Lũng Sủi. Ông Dìn gật. Chở đứng sau cột nhà nhìn tôi, không nói gì.

Tôi không dám nói với ai rằng tôi đi báo không phải chỉ vì bọn trẻ. Tôi đi vì không muốn một đứa nào nữa đến lớp mà không có ai mở cửa.

* * *

Đêm ấy rét nhất từ đầu mùa. Nước trong xô đóng băng đến đáy. Tôi mặc hết quần áo mang theo, đắp hai chăn, vẫn thấy rét từ trong ra. Tôi không ngủ. Tôi nằm chờ.

Gần bốn giờ, kẻng. Tiếng cao, mảnh, của cái dùi gỗ đào. Một. Hai. Ba. Cạch.

Tiếng chân trên sân. Lần này không dừng ở bậc cửa.

Tiếng then gỗ ngoài cửa lớp khẽ kêu. Rồi cánh cửa mở. Tôi nghe rõ tiếng bản lề gỗ rít lên, cái tiếng tôi nghe mỗi sáng khi tự tay mình mở. Hơi lạnh ùa vào tận buồng tôi qua phên nứa.

Tiếng chân trần đi trên nền đất lớp. Chậm. Đến dãy bàn cuối. Tiếng ghế dài hơi xê dịch. Rồi tiếng ngồi xuống.

Rồi im.

Tôi nằm nghe tiếng im ấy một lúc rất lâu. Rồi tôi làm việc mà ba tháng nay tôi không làm. Tôi thắp đèn dầu, vén phên nứa, bước ra lớp.

* * *

Ánh đèn dầu chỉ đủ soi một vòng tròn nhỏ. Nền đất lớp trắng mờ sương muối lọt qua cửa mở. Bàn ghế đứng im. Cửa lớp mở toang, bên ngoài là một tấm màn xám đặc.

Ở bàn cuối, đầu ghế sát cửa, chỗ Chở vẫn để trống, có một đứa trẻ ngồi.

Nhỏ. Lưng về phía tôi. Áo bông đen cũ, một cái mũ nồi tối màu, cái cổ gầy trơ ra giữa mũ và cổ áo. Hai bàn chân trần đặt sát nhau dưới gầm ghế, da chân tím đen. Hai bàn tay đặt trên mặt bàn, xoè ra, ngay ngắn như đứa trẻ ngoan chờ thầy kiểm tra tay. Đầu ngón tay cũng đen.

Nó ngồi rất thẳng. Mặt hướng lên bảng. Nó không quay lại khi tôi bước ra.

Tôi đứng cách nó ba cái bàn. Tôi nói, giọng tôi nghe lạ trong lớp vắng.

"Sính."

Nó không động.

"Vàng Mí Sính. Thầy gọi em đấy."

Không gì. Chỉ có ánh đèn dầu run làm cái bóng nó run theo trên tường đất.

Tôi hỏi, em ngồi đây làm gì. Lần này nó trả lời. Không quay lại. Giọng nhỏ, khàn, đúng cái giọng ấy, nhưng gần đến mức tôi nghe được từng hơi thở ngắn giữa các chữ.

"Thầy Thiện bảo em ngồi đây chờ."

Tôi hỏi chờ gì.

"Chờ thầy."

Tôi nói thầy đây rồi. Thầy ở đây rồi.

Nó im một lúc. Rồi đầu nó hơi cúi xuống, như đứa trẻ bị mắng.

"Thầy không phải thầy Thiện."

Tôi nói đúng, thầy không phải thầy Thiện. Thầy Thiện đi rồi. Giờ thầy dạy lớp này. Thầy có tên em trong sổ. Em nghe không, tên em ở hàng đầu.

Nó không trả lời câu ấy. Nó hỏi một câu khác, và câu ấy làm hai đầu gối tôi mềm ra.

"Thầy đọc hết chưa."

Tôi không hiểu. Rồi tôi hiểu. Tôi nói, giọng vỡ:

"Hết rồi."

"Có à."

Nó nói chữ ấy như trút được một việc. Vai nó hạ xuống một chút. Hai bàn tay trên mặt bàn hơi co lại.

Tôi bước thêm một bàn. Tôi muốn nhìn mặt nó. Tôi không biết tôi có chịu được không, nhưng tôi muốn nhìn. Đèn dầu chao, hơi lạnh từ nó tỏa ra đến chỗ tôi, lạnh như đứng cạnh một tảng băng.

"Thầy đừng đi nữa."

Nó nói, vẫn không quay lại.

"Thầy Thiện đi rồi. Em ngồi chờ. Lạnh lắm thầy."

Tôi đưa tay ra. Tôi không biết để làm gì. Để đặt lên vai nó, có lẽ.

Ngọn đèn dầu tắt phụt, không có gió.

Trong bóng tối tôi nghe tiếng ghế dài xê dịch, tiếng chân trần trên nền đất, đi ra cửa, qua bậc, xuống sân. Không chạy. Đi như mọi sáng nó vẫn đi. Rồi tiếng kẻng một tiếng, khẽ, như va phải. Rồi im.

Tôi đứng trong bóng tối đến lúc tay quờ được bao diêm.

Trên mặt bàn cuối, chỗ hai bàn tay nó đặt, lớp sương muối mỏng tan thành hai hình bàn tay xoè, nước đọng trong từng vết ngón. Tôi không lau. Tôi để nguyên như thế đến sáng.

* * *

Sáng ra trời ấm hơn một chút, tôi đánh kẻng ba hồi dài. Bọn trẻ đến, mười sáu đứa.

Chở không đến.

Tôi điểm danh. Vàng Mí Sính, im lặng. Mười sáu tên. Vàng Thị Chở, im lặng. Tôi gập sổ.

"Có à."

Tôi dạy hết buổi với cái đầu trống rỗng. Chiều, tôi đi về phía dốc Sủi, định sang Lũng Sủi xem Chở sao. Đến đầu dốc thì trời đã xuống sương, tôi đứng lại.

Trên lớp sương muối còn sót ở mặt dốc, chỗ bóng cây không có nắng, có một hàng dấu chân. Chân trần. Nhỏ. Đi từ dưới lên, về phía điểm trường. Rõ từng ngón.

Không có hàng dấu chân nào đi xuống.

Tôi đứng nhìn hàng dấu chân ấy một lúc rồi quay về. Tôi không sang Lũng Sủi được. Trời tối quá. Tôi tự nói với mình thế. Tôi nói đi nói lại, cho đến khi tôi tin.