Chương 8: Ghế lái chiếc U-oát
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Sáng hôm sau người ta tìm thấy tôi ngồi trong chiếc Ford đỗ ở khúc cua thứ ba, máy đã tắt, chìa khoá cắm trong ổ. Một chiếc xe tải chở mía đi ngang thấy đèn khẩn cấp còn nháy, gõ cửa kính. Tôi không nhớ mình đã leo lên xe lúc nào. Tôi ngồi ghế phụ.
Tôi lái xe về bệnh viện lúc bảy giờ sáng. Giám đốc không hỏi gì, chỉ lấy lại chìa khoá, nói tôi nghỉ một tuần. Ca đêm giao cho Tín, một thằng nhỏ lái xe hợp đồng mới về.
Hai tay tôi rách da vì quẹt vào vách đá. Chị Nga rửa vết thương cho tôi ở phòng thủ thuật. Chị không hỏi tôi đi đâu. Lúc dán băng xong, chị nói nhỏ, như nói với cái khay inox:
"Đêm mười bảy này là giỗ anh Thạnh đó Lực."
Tôi biết. Tôi chưa bao giờ đi đám giỗ anh. Bảy năm, không lần nào.
* * *
Chiều hôm đó tôi ra cổng, đứng trước bàn nước chị Hường. Lần này chị không cúi xuống lau ly. Chị rót cho tôi một ly nước chè xanh, đẩy tới, rồi ngồi xuống chiếc ghế nhựa đối diện.
Tôi kể với chị hết. Từ đêm đầu tiên ở cua Cây Keo, cái nút băng, cái núm đài, sợi dây an toàn. Tôi kể chuyện đêm qua, anh đứng bên lan can nói chú chở sai người. Tôi không kể câu anh nói ở cửa lái. Tôi không kể được.
Chị nghe hết, không ngắt lời. Rồi chị nói, giọng đều:
"Anh Thạnh bỏ rượu từ năm 2002. Ảnh bị loét bao tử, ói ra máu một lần, bác sĩ nói uống nữa thì chết. Từ đó tới khi mất, đám giỗ đám cưới ảnh cũng không đụng một giọt. Cả xóm tôi biết."
Tôi cầm ly nước, nước nguội dần trong tay.
"Mà hội đồng kết luận ảnh lái xe có rượu. Người ta nói trong xe có mùi rượu, có chai rượu trong hộc. Tôi lên hỏi, người ta nói tôi đau buồn quá nên nói bậy. Tôi hỏi tới lần thứ ba thì người ta nói tới chuyện bồi thường chiếc xe. Tôi thôi."
Chị nhìn ra phía sau nhà xe.
"Chai rượu đó không phải của ảnh. Tôi biết từ đêm đó. Tôi chỉ không biết của ai."
Chị nói vậy, mà mắt chị nhìn tôi như người đã biết.
* * *
Đêm đó tôi không ngủ. Mười một giờ, tôi xách đèn pin ra phía sau nhà xe.
Chiếc U-oát nằm đó dưới tấm bạt rách, bánh xe xẹp lép, sắt gỉ đỏ như máu khô. Tôi kéo tấm bạt xuống. Cửa lái kẹt, tôi phải đạp hai cái mới mở được. Mùi ẩm mốc, mùi chuột, và dưới lớp mùi đó, rất mờ, mùi dầu gió.
Tôi ngồi vào ghế lái. Bảy năm, lần đầu tiên.
Ghế lái chiếc U-oát chỉnh bằng một cái cần sắt dưới đệm, kéo lên rồi đẩy tới hay lùi. Cái cần đã gỉ cứng, không ai đụng tới từ sau tai nạn. Ghế đang ở vị trí kéo sát lên trước, sát vô lăng. Anh Thạnh cao hơn tôi gần một cái đầu, ngồi kiểu này đầu gối anh sẽ cấn vào táp lô.
Còn tôi ngồi vào thì vừa khít. Đầu gối vừa chạm, bàn chân vừa tới chân ga. Như cái ghế được chỉnh cho tôi. Như nó đã chờ tôi bảy năm ở đúng chỗ đó.
Tôi ngồi im rất lâu. Hai tay đặt lên vô lăng đầy bụi. Kính trước vỡ hình mạng nhện, lỗ thủng ở giữa nằm ngay trước ghế phụ.
* * *
Tôi mở hộc táp lô. Bên trong có một cuộn băng gạc đã mục, đóng dấu Trung tâm Y tế huyện Trà Tân, giống hệt đoạn băng tôi đang mang trong túi áo. Có một chai dầu gió con ó cạn khô. Có một cây bút bi, một tờ giấy điều xe gấp tư, mực đã nhoè hết.
Không có chai rượu nào. Chai rượu người ta đã lấy đi làm tang vật.
Tôi nhớ chai rượu đó. Rượu nếp, chai nước suối cũ, nút bằng lá chuối khô. Tôi nhớ nó nằm trong hộc táp lô, lăn qua lăn lại mỗi khi xe ôm cua. Tôi nhớ có người với tay mở nắp hộc, cầm chai rượu lên, tu một ngụm. Tôi nhớ vị cay của ngụm rượu đó.
Tôi không nhớ được người đó là ai. Tôi không cho mình nhớ.
Bên ghế phụ có tiếng sột soạt. Tiếng khoá dây an toàn cũ, gỉ sét, kéo ra rít lên từng nấc.
Tôi không quay qua. Tôi nhìn thẳng ra lỗ thủng trên kính trước. Mùi dầu gió dày lên, ấm, như hơi thở người ngồi sát bên.
"Cái ghế đó vừa với chú hả."
Tay tôi bấu chặt vô lăng. Bụi bám đen hai lòng bàn tay.
Giọng anh nhẹ, không giận, chỉ mệt, mệt như một người đã đứng ngoài mưa quá lâu.
"Mai mười bảy. Mai chú chở tôi về chỗ cũ nghe. Lần này để chú lái. Như hồi đó."