☾ Truyện Ma Có Thật
← Lọn tóc trong lưới cào

Chương 2: Lọn tóc thứ hai

Khoảng 4 phút đọc·9lượt xem

Sáng hôm sau ghe về bán ở vựa Hai Thắm, chợ Năm Căn. Vựa là cái nhà sàn lợp tôn bắc ra mé sông, dưới sàn ghe đậu san sát, trên sàn mấy chục cái thau nhôm, cân bàn, đá cây chất như củi. Chị Hai Thắm chủ vựa chừng bốn mươi tuổi, miệng nhai trầu, tay bấm máy tính nhanh như múa. Chị cân tôm xong nhìn ông Bảy, nhướng mày.

"Ghe anh Bảy bữa nay trúng dữ. Cả vàm có mình anh trúng."

Ông Bảy không nói gì. Chị đếm tiền, ông lấy, nhét vô túi áo bà ba không đếm lại. Tôi thấy anh Đực nhìn chỗ khác.

Về tới ghe, ông Bảy đưa tôi hai trăm ngàn. Tôi hỏi tiền gì. Ông nói tiền công một đêm. Tôi nói cậu Út tôi dặn bạn ghe cào được năm chục một đêm là cao. Ông nói ghe này trả vậy, lấy đi, gửi về cho má.

Tôi cầm. Hai trăm ngàn năm 2006 là một tạ lúa. Tôi gấp tờ tiền bỏ vô túi quần, thấy nó dày hơn nó đáng phải dày.

* * *

Bốn đêm kế tiếp ghe đi cào bình thường. Mỗi đêm được một hầm đá vừa, có đêm ít hơn, không có tóc. Tôi bắt đầu quen việc. Quen tiếng tời, quen mùi dầu máy trộn mùi tôm chết, quen ngủ ngày trong mui tôn nóng như lò bánh. Tôi quen cả cái cách anh Đực không bao giờ cởi bao tay, không bao giờ bước gần cái đãy khi nó vừa kéo lên.

Tôi để ý cái lưới. Lưới cào của ông Bảy cũ, màu xanh ngả nâu, nhưng gần đít đãy, ngay chỗ nối với thân lưới, có một mảng rộng bằng cái nia được vá bằng cước mới. Cước màu xanh lá sáng, mắt lưới đan khác tay. Chỗ vá còn mới, chưa bám bùn. Tôi hỏi anh Đực lưới rách hồi nào mà vá lớn vậy. Anh Đực rít thuốc, nói hồi tháng Ba, cào trúng gốc đước.

Gốc đước thì rách xé. Mảng rách này gọn, viền thẳng, như người ta lấy dao mà cắt.

Tôi không hỏi thêm.

* * *

Đêm thứ sáu kể từ khi tôi lên ghe, trời tối đen, không trăng, nước đang lớn. Ông Bảy cho ghe ra gần cửa Bồ Đề hơn mọi khi. Gió từ biển vô mang theo mùi muối và mùi gì đó như trứng ung từ bãi bùn. Sóng gợn lớn, ghe chòng chành, dây cào kêu rên.

Dạo cào thứ hai kéo lên khi con nước bắt đầu đổi chiều. Tời quay nặng. Anh Đực nắm dây phụ, hai cánh tay anh nổi gân. Cái đãy trồi lên khỏi mặt nước, căng tròn như bụng heo, nước đổ xuống sạp ào ào.

Tôi mở gút.

Tôm bạc tràn ra tới ngập mắt cá chân. Trắng bạc dưới đèn bình, nhảy lách tách như mưa đá rớt trên mái tôn. Anh Đực lùi lại một bước. Ông Bảy từ sau lái bước ra, đứng ngay sau lưng tôi, không nói.

Tôi quỳ xuống lựa. Tôi biết mình đang tìm gì. Tay tôi bới tôm từng vốc, từng vốc.

Nó nằm ở giữa đống, dưới một lớp cá khoai.

Lọn tóc thứ hai. Dài bằng lọn trước, đen, ướt, gom gọn, cột ngang giữa bằng một cái gút tự thắt. Cái gút y hệt cái gút lần trước, cùng một tay cột. Tôi cầm lên. Mùi bồ kết thoảng lên giữa mùi tôm tanh.

Ông Bảy nói, không đợi tôi quay lại:

"Quăng."

Tôi quăng. Nó chìm ngay.

"Lựa tiếp. Đừng nói với ai."

Đêm đó cào thêm hai dạo nữa, dạo nào cũng nặng như dạo đầu. Hầm đá đầy, phải đổ tôm ra thau, lấy bao bố ướt đậy. Ông Bảy mở ga chạy về Năm Căn lúc bốn giờ sáng để bán cho kịp, không ghé vàm.

* * *

Bến vựa Hai Thắm lúc rạng sáng đông ghe. Người ta chuyền thau, cân, la hét, nước đá đổ rào rào. Chị Hai Thắm cân xong nhìn số, rồi nhìn ông Bảy, lần này không nói gì. Chị nhổ bã trầu xuống sông.

Trong lúc chờ anh Đực xịt rửa sạp, tôi ngồi ở mũi ghe nhìn lên bến. Trên bến có một bà già đứng một mình, cách đám người bán mua một quãng. Bà mặc áo bà ba màu cháo lòng, đội nón lá, tay cầm một cái bọc ni lông cuộn chặt. Bà không mua, không bán. Bà đứng nhìn từng chiếc ghe cào cặp bến, từng chiếc một, nhìn xuống sạp ghe, nhìn thật lâu, rồi nhìn qua chiếc kế.

Khi bà nhìn tới ghe ông Bảy, bà dừng lại lâu hơn.

Tôi thấy ông Bảy quay lưng lại phía bến, giả bộ sửa dây.

Bà già đứng đó tới khi ghe tôi nổ máy đi. Tôi hỏi anh Đực bà đó ai. Anh Đực không trả lời. Về tới vàm, lúc hai người ngồi ăn cơm nguội với cá khoai kho, anh Đực mới nói, mắt không rời chén cơm:

"Mày đếm hả?"

Tôi nói đếm gì. Anh nói đếm tóc. Tôi im. Anh gắp một miếng cá, nhai rất lâu, rồi nói:

"Đừng đếm. Đếm là nó biết mày đếm."