☾ Truyện Ma Có Thật
← Sĩ số ba mươi mốt

Chương 5: Bàn thờ ngày Tết

Khoảng 4 phút đọc·6lượt xem

Tôi không kể với ai chuyện đêm mưa ấy. Sáng ra, nền đất quanh giường có những vết lõm nhỏ còn đọng nước, tôi lấy chổi rơm quét đi, rồi lên lớp.

Suốt tháng Mười một và tháng Mười hai, tôi sống như người đi trên cầu khỉ: nhìn thẳng, không nhìn xuống. Sáng vào lớp tôi không đếm nữa. Tôi gọi tên, nghe đủ ba mươi mốt tiếng "có", ghi "Có mặt 31", gập sổ.

Quyển vở không tên vẫn nằm trên nửa ghế cạnh Tuấn mỗi sáng. Tôi không thu nó. Tôi không chấm nó. Nhưng buổi trưa, khi lớp vắng, có lần tôi không cưỡng được, lật xem. Bài nào cũng chép đủ. Chữ đẹp dần lên từng tuần, như của một đứa trẻ chăm chỉ.

Dưới mỗi bài, đều có thêm một dòng. "Sao cô không đếm nữa." "Cô đếm đi." "Hôm nay cô không nhìn em."

Tôi gập vở, để lại chỗ cũ, ngay ngắn như chưa ai động vào.

* * *

Tuấn mỗi ngày một xanh. Đến ngày 20 tháng Mười một, cả lớp hát tặng thầy cô, Tuấn đứng hàng đầu mà mắt lờ đờ, hát không ra tiếng. Tôi xin thầy Khải cho đưa thằng bé xuống trạm xá. Y sĩ khám, bảo thiếu ăn, sốt rét cũ, cho mấy vỉ thuốc.

Tôi biết không phải sốt rét. Tôi nói với cô Mến. Lần này tôi kể hết, từ chiếc thuyền giấy, quyển vở, đến tiếng đếm bên màn.

Cô Mến nghe xong ngồi lặng. Rồi cô bảo phải mời ông mo lên làm lễ ở lớp, gọi cái vía lạ ra, cho nó ăn một bữa rồi tiễn đi. Tôi sang xin thầy Khải. Thầy gạt đi ngay, giọng nghiêm như họp hội đồng.

"Trường học không làm mê tín. Phòng giáo dục huyện mà biết thì cả cô cả tôi đi viết kiểm điểm. Cô có chuyện riêng thì cô làm ở nhà cô."

* * *

Tết năm ấy tôi về quê.

Nhà tôi ở xóm Bãi, ven sông Thao, ba gian nhà ngói, sân gạch, sau nhà có cái ao bèo rộng chừng hai sào, bờ ao trồng chuối. Bố tôi làm ở nhà máy supe, đi ca ba, người lúc nào cũng thoang thoảng mùi lưu huỳnh. Mẹ tôi bán hàng xén ở chợ Hùng Sơn. Từ ngày tôi đi học xa, nhà chỉ còn hai ông bà.

Chiều ba mươi, mẹ bày mâm ngũ quả, bánh chưng lên bàn thờ. Trên bàn thờ có ảnh ông bà nội, và cạnh đó, nhỏ hơn, một khung ảnh đen trắng úp xuống. Mẹ không bao giờ dựng nó lên. Đó là ảnh em trai tôi, cu Toàn, mất năm tôi mười sáu tuổi, lúc nó bốn tuổi. Nhà tôi không nhắc tên nó. Sáu cái Tết rồi, mẹ vẫn úp cái khung ảnh ấy, chỉ thắp riêng cho nó một nén nhang và đặt một cái kẹo lạc.

Năm ấy, cạnh cái kẹo lạc, mẹ đặt một quyển vở ô li mới, bìa xám, chưa viết chữ nào.

Tôi hỏi mẹ vở để làm gì. Mẹ vừa lau bát hương vừa nói, giọng đều đều như kể chuyện chợ:

"Năm nào mẹ cũng mua cho nó một quyển. Tháng Tám, ở hiệu sách Hùng Sơn. Đặt lên đây cho nó đi học. Năm nay để được hai hôm... đúng hôm con đi lên trên ấy, thì mất. Mẹ lục cả nhà. Không thấy."

Tôi đứng sững cạnh bàn thờ. Mẹ không nhìn tôi. Mẹ cắm nhang, vái ba vái, rồi hỏi, mắt vẫn nhìn lên:

"Ở trên ấy con có thấy lạnh không? Có ai đi cùng con không?"

Tôi nói không. Tôi nói nhanh quá. Mẹ quay sang nhìn tôi, rồi nhìn xuống bàn tay trái của tôi đang buông ngang đùi, các ngón khum khum. Mẹ cầm lấy bàn tay ấy, xoa xoa như hồi tôi còn bé, lòng bàn tay mẹ khô và ấm.

"Tay con lạnh quá," mẹ nói, rồi buông ra, đi xuống bếp, không nói gì thêm cả buổi chiều.

* * *

Đêm giao thừa, cả xóm đốt pháo. Tôi đứng ở hiên nhìn ra ao. Mặt ao đen, bèo tây dạt vào một góc, khói pháo bay là là trên mặt nước. Tôi chợt nhớ hồi nhỏ, chiều nào tôi cũng ngồi bờ ao gấp thuyền, thả cho một đứa bé lon ton chạy theo dọc bờ, reo ầm lên mỗi khi thuyền không chìm.

Tôi không nhớ được mặt đứa bé ấy. Đầu tôi tránh nó đi, như tay tránh hòn than.

Mồng bốn Tết, tôi bắt xe khách ngược lên Thanh Sơn. Mẹ không tiễn ra bến. Mẹ đứng ở cổng, gọi với theo, dặn lại đúng câu mùa thu năm trước, đi đâu cũng đi một mình thôi. Lần này tôi không cười.

* * *

Ngày đầu đi học sau Tết, mưa phùn, đồi chè ướt sũng. Tôi vào lớp, gọi tên.

"Đinh Văn Tuấn."

Không ai thưa. Nhàn đứng dậy, nói Tuấn ốm, sốt từ hôm hai mươi tám Tết, chưa đi học được. Tôi ghi "Vắng 1". Quyển vở không tên vẫn nằm trên ghế, bây giờ ở giữa bàn, chiếm cả chỗ của Tuấn.

Chiều hôm đó, tôi đang chấm bài ở nhà công vụ thì bà nội Tuấn leo lên đồi. Bà đi chân đất, tóc rối, chưa kịp quấn khăn, vừa thở vừa khóc. Bà túm lấy tay tôi.

"Cô giáo ơi... thằng Tuấn đi đâu rồi. Nó sốt. Bà ra vườn hái lá xông, vào không thấy nó. Cái Hoa nhà bên bảo nó xuống suối. Đi với một đứa."

Trời đã nhá nhem. Từ dưới chân đồi, tiếng suối Cỏ dâng lên to hơn bao giờ hết.