☾ Truyện Ma Có Thật
← Sĩ số ba mươi mốt

Chương 6: Đêm ở vũng cầu tre

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Cả xóm Mít đi tìm Tuấn. Đàn ông đốt đuốc bằng bó nứa khô, đàn bà cầm đèn bão, mấy thanh niên có đèn pin thì soi trước. Người ta chia nhau đi dọc suối Cỏ, kẻ ngược lên đầu nguồn, kẻ xuôi xuống phía nông trường. Tiếng gọi "Tuấn ơi" vang khắp sườn đồi, dội lại từ rừng cọ bên kia, nghe như có ai trả lời từ xa.

Tôi cầm cái đèn pin Con Thỏ mẹ cho, đi cùng cô Mến. Mưa phùn đã tạnh nhưng sương xuống dày, ánh đèn pin chỉ xuyên được vài bước rồi tan thành một quầng trắng đục. Đá suối trơn như bôi mỡ. Hai lần tôi trượt, đầu gối đập xuống đá, không thấy đau.

Tôi không đi theo người ta. Tôi đi thẳng xuống vũng cầu tre.

Không ai bảo tôi. Chân tôi tự đi. Như có một bàn tay nhỏ kéo bàn tay trái của tôi về phía ấy, kéo dai dẳng, nhẫn nại, theo kiểu trẻ con kéo người lớn đi xem một thứ chúng vừa tìm được.

* * *

Vũng cầu tre là chỗ suối Cỏ đổ qua một bậc đá, khoét thành một cái hố nước sâu, xanh đen, rộng bằng cái sân đình. Phía trên bắc một cây cầu tre ba cây ghép, tay vịn bằng dây mây. Người ta nói con bé Lan chết ở đây năm 1989. Bờ bên này là một phiến đá phẳng, trẻ con hay ngồi thả câu.

Tôi đến chỗ phiến đá thì cô Mến ở lại phía sau, gọi tôi chờ. Tôi không chờ được. Tôi lia đèn ra mặt nước.

Có hai đứa trẻ trên phiến đá.

Một đứa là Tuấn. Thằng bé mặc độc cái áo may ô, quần đùi, chân đất, đứng ở mép đá, người run lẩy bẩy.

Đứa còn lại đứng sát mép nước hơn, quay lưng về phía tôi. Gầy, nhỏ hơn Tuấn một chút. Tóc ướt dính bết vào đầu, dựng lên một chỏm ở đỉnh. Quần áo nó ướt sũng, nước chảy từ gấu áo xuống đá thành vệt dài. Nó đang nắm tay Tuấn. Nó bước một bước xuống nước, và kéo.

Tuấn bước theo. Nước ngập đến mắt cá Tuấn.

Tôi gọi Tuấn. Thằng bé không quay lại. Tôi gọi lần nữa, to đến rách cổ. Tiếng suối nuốt mất.

Rồi tôi gọi một tiếng khác. Tôi không biết vì sao. Chữ ấy bật ra khỏi miệng tôi như từ một chỗ rất sâu, một chỗ đã đóng kín từ lâu.

"Em ơi."

Đứa trẻ ướt sũng đứng lại.

* * *

Nó không quay hẳn lại. Nó chỉ nghiêng đầu, rất chậm, như người nghe thấy tên mình ở chỗ đông người mà chưa chắc. Ánh đèn pin rọi vào gáy nó, vào vành tai trắng bệch. Tôi bước thêm một bước. Đèn pin chớp hai cái rồi tắt phụt, dù bốn quả pin mới thay từ hôm Tết.

Trong bóng tối, chỉ còn tiếng suối và tiếng Tuấn thở hổn hển.

Tôi lội xuống. Nước suối tháng Giêng lạnh như dao cứa vào bắp chân. Tôi quờ tay, chạm vào vai Tuấn, túm lấy cổ áo nó, giật mạnh về phía bờ. Thằng bé ngã vào người tôi, nặng trịch, mềm oặt, nóng hầm hập vì sốt.

Đúng lúc ấy, bàn tay trái của tôi bị nắm lấy.

Một bàn tay nhỏ. Lạnh hơn nước suối. Các ngón tay ướt, mềm, có bùn mịn trong kẽ. Nó luồn vào lòng bàn tay tôi, đúng vào cái khum tay tôi mang theo bao nhiêu năm, khít như một mảnh vỡ ghép về đúng chỗ. Nó nắm chặt. Không kéo. Chỉ nắm, như một đứa trẻ sợ lạc trong chợ đông.

Tôi biết bàn tay ấy. Cơ thể tôi biết trước khi đầu tôi kịp nghĩ. Tôi đứng chết lặng giữa dòng nước, một tay ôm Tuấn, một tay bị nắm, không giật ra được, cũng không nắm lại được.

Sát bên tai tôi, giọng trẻ con nói khẽ, giọng của tiếng đếm bên màn:

"Cô đếm đúng mà."

Rồi bàn tay buông ra. Không trượt đi. Buông, từng ngón một, chậm rãi, như người ta buông tay ai đó vì đã được dặn phải buông.

* * *

Cô Mến và mấy người đàn ông soi đuốc chạy đến, kéo cả tôi và Tuấn lên phiến đá. Người ta quấn Tuấn trong áo bông, cõng chạy về xóm. Có người hỏi tôi thấy nó ở đâu, nó đi với ai. Tôi nói chỉ có mình nó. Tôi nói dối mà không biết vì sao mình nói dối.

Tuấn sốt li bì ba ngày rồi qua. Tuần sau, bố mẹ Tuấn từ nông trường về, xin chuyển trường cho thằng bé xuống nhà ông ngoại ở thị xã Phú Thọ. Bà nội Tuấn ra tận trường, đưa cho tôi tờ giấy chuyển trường, không nhìn vào mặt tôi. Bà chỉ nói một câu bằng tiếng Mường. Cô Mến dịch lại cho tôi nghe.

"Cô giáo dẫn nó đến thì cô giáo phải dẫn nó đi."

Trên mu bàn tay trái của tôi, những vết bầm nhỏ hiện lên, xanh tím, bốn vết dài và một vết ngắn. Bằng đầu ngón tay một đứa trẻ. Hai tuần sau mới mờ hẳn.

* * *

Sổ gọi tên của tôi giờ còn ba mươi tên. Bàn cuối dãy phải trống cả hai chỗ.

Sáng thứ Hai, tôi đứng ở bục, nhìn xuống lớp. Tôi chỉ định gọi tên. Nhưng mắt tôi tự đi qua từng cái đầu, dãy trái, rồi dãy phải, xuống đến bàn cuối, nơi không còn cái đầu nào.

Ba mươi mốt. Cái số cuối cùng rơi vào đúng chỗ bàn trống.

Quyển vở không tên nằm giữa bàn trống, mở sẵn ở trang mới nhất. Tôi đi xuống, cúi nhìn. Dưới bài Toán hôm thứ Bảy, nét chữ tròn nghiêng trái viết thêm hai dòng:

"Bạn Tuấn không đi học nữa. Em ngồi một mình cũng được."

Và một dòng nữa, mực còn ướt:

"Cuối năm lớp mình có chụp ảnh không cô?"