☾ Truyện Ma Có Thật
← Sĩ số ba mươi mốt

Chương 8: Người đứng hàng sau

Khoảng 4 phút đọc·6lượt xem

Tôi không xin đổi lớp. Tôi biết có xin cũng vô ích. Tôi chỉ nghĩ đến chuyện tiễn nó đi.

Cuối tháng Bảy, mẹ nhờ một bà cụ trong xóm Bãi, người hay xem ngày cưới hỏi, sang làm lễ. Bà cụ không cho mời thầy.

"Ma dữ đâu mà thầy với bà. Em nó theo chị nó. Chị nó bảo thì nó nghe. Người ngoài bảo, nó cứ đứng đấy."

Chiều hôm ấy, mẹ dựng lại khung ảnh cu Toàn trên bàn thờ, lần đầu tiên sau sáu năm. Mẹ bày một đĩa xôi, một quả trứng luộc, một bộ quần áo trẻ con mười tuổi mua ở chợ Hùng Sơn, một quyển vở mới. Bà cụ thắp nhang, khấn bằng giọng thì thào, rồi đưa tôi ra bờ ao.

* * *

Trời nhá nhem. Mặt ao phẳng lặng, bèo tây đã vớt sạch từ hôm trước. Mùi bùn ngai ngái bốc lên, lẫn mùi khói rơm nhà ai đốt đồng. Tôi ngồi xuống đúng chỗ gốc chuối năm xưa.

Tôi mang theo quyển vở không tên. Hôm bế giảng, nó vẫn nằm trên bàn cuối dãy phải, và tôi đã cho nó vào cặp mang về. Tôi xé trang đầu tiên, trang ghi ngày mùng năm tháng Chín, gấp thành chiếc thuyền. Tay tôi vẫn nhớ từng nếp gấp.

Tôi đặt chiếc thuyền xuống nước. Rồi tôi nói. Tôi nói to, như nói với một đứa trẻ đang đứng trước mặt.

"Toàn ơi. Em học xong lớp 4 rồi. Em viết chữ đẹp rồi. Chị dạy em đến đây thôi. Em đừng đi theo chị nữa. Em về với ông bà đi."

Tôi ngừng lại, cổ họng nghẹn, rồi nói nốt câu mà sáu năm nay tôi chưa nói được:

"Chị xin lỗi. Hôm ấy chị quay lưng lại."

Gió nổi lên rất nhẹ. Chiếc thuyền giấy trôi ra giữa ao, chậm, thẳng, như có ai đẩy từ phía sau. Đến chỗ năm xưa, nó dừng lại. Rồi lần đầu tiên trong đời, tôi thấy một chiếc thuyền mình gấp chìm xuống. Mũi trước chúi xuống, mũi sau dựng lên, rồi mặt nước khép lại, không gợn.

Bà cụ bảo tôi đốt hết quyển vở. Tôi đốt từng trang trong cái chậu nhôm, nhìn những dòng chữ tròn nghiêng trái cong lên, đen lại, vụn ra. Trang cuối cùng tôi không dám đọc.

Đêm ấy tôi ngủ một mạch đến sáng. Khi thức dậy, bàn tay trái của tôi nằm xoè trên chiếu, khô và ấm.

* * *

Tháng Chín năm 1997, tôi lên Đồng Măng nhận lớp 5. Sổ gọi tên ghi ba mươi ba em, có ba em chuyển từ trường khác đến. Tôi đứng ở bục, hít một hơi, nhìn xuống.

Tôi không đếm. Tôi gọi tên. Ba mươi ba tiếng "có". Tôi ghi sổ.

Bàn cuối dãy phải có hai đứa con gái ngồi, cười khúc khích, không chừa ra nửa ghế nào. Không có thuyền giấy. Không có quyển vở thừa. Buổi tối không có tiếng bước chân ướt.

Từ năm ấy, tôi không bao giờ đếm đầu học sinh nữa. Ba mươi năm đi dạy, tôi chỉ gọi tên. Đồng nghiệp trêu tôi cô giáo gì mà không đếm nổi lớp mình. Tôi cười. Tôi không giải thích.

Tám năm sau tôi xin chuyển về một trường gần Việt Trì. Mẹ tôi mất năm 2015, dặn tôi giữ khung ảnh cu Toàn dựng thẳng, đừng úp. Tôi giữ đúng lời.

* * *

Năm nay tôi năm mươi mốt tuổi. Còn bốn năm nữa thì nghỉ hưu.

Hôm 20 tháng Mười một vừa rồi, trường tôi thuê thợ chụp ảnh tập thể giáo viên trước cổng. Cả trường mười tám người. Tôi đứng hàng sau, vì tôi cao. Cậu thợ ảnh trẻ, cầm máy kỹ thuật số, chụp liền mấy kiểu, rồi nhìn vào màn hình, gãi đầu.

"Các cô các thầy đủ chưa ạ? Em đếm mười chín... à không. Mười tám. Hay mười chín nhỉ?"

Cô hiệu phó cười, bảo cậu đếm cả bóng cây vào rồi. Cả trường cười theo. Tôi cũng cười. Tay trái tôi, buông ngang đùi, đã khum lại từ lúc nào.

Một tuần sau, ảnh rửa xong, treo ở phòng hội đồng. Ai cũng xúm lại tìm mặt mình. Rồi cô giáo trẻ dạy lớp 1 chỉ vào hàng sau, hỏi to:

"Ơ, thầy nào đứng cạnh cô Huyền đây ạ? Trường mình làm gì có thầy này."

Tôi lại gần.

Đứng sát bên trái tôi là một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi. Gầy, cao hơn tôi nửa cái đầu. Mặc sơ mi trắng cài kín cúc, hai tay chắp sau lưng, đúng dáng một thầy giáo đứng chào cờ. Tóc anh ta chải gọn, chỉ có một chỏm ở đỉnh đầu không chịu nằm xuống. Áo anh ta ướt sẫm từ vai trở xuống.

Trên lông mày trái có một đường sẹo đã bạc, mảnh như sợi chỉ, thứ sẹo người ta mang từ bé đến lúc già.

Anh ta không nhìn vào ống kính. Anh ta nhìn tôi, và cười, nụ cười hở cái răng khểnh.

Cu Toàn sinh năm 1987. Năm nay nó ba mươi chín tuổi.

* * *

Sáng nay tôi đến trường sớm, lúc sân còn sương. Tôi mở ngăn bàn giáo viên để lấy sổ.

Trong ngăn có một chiếc thuyền giấy, đúng kiểu tôi gấp. Nó không gấp bằng giấy vở ô li. Nó gấp bằng một tờ giấy kẻ ngang, loại giấy giáo án, mép trang hơi ẩm.

Trên một mạn thuyền, nét chữ người lớn, chữ đẹp, nghiêng về bên trái:

"Chị đếm đúng đấy."