Chương 2: Ổ khoá ngoài
Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem
Tôi nhận lớp ba, hai mươi sáu đứa. Trẻ con Hải Lâm đứa nào tóc cũng cháy nắng, tay chân đầy vết xước vì theo bố mẹ ra ruộng muối. Buổi sáng chúng mang vào lớp mùi cá, mùi nắng và mùi muối mặn, đứng gần đứa nào cũng ngửi thấy. Tôi dạy buổi sáng, chiều soạn bài, tối về gian nhà ngang.
Ngày thứ ba, giờ ra chơi, tôi hỏi cô Thuỷ dạy lớp bên về ngôi nhà thờ họ trong sân nhà bác Cần. Cô Thuỷ người làng khác, lấy chồng về Trà Trung được chục năm.
"Nhà ấy khoá từ hồi em chưa về đây. Người làng kiêng, chị đừng hỏi nhiều. Em cũng không hỏi."
Tôi hỏi kiêng cái gì. Cô Thuỷ nhìn ra sân trường, nơi lũ trẻ đang đuổi nhau quanh cột cờ.
"Em không biết. Chỉ biết là ngày giỗ bên ấy thì cả làng ăn cơm sớm, đóng cửa sớm."
* * *
Tối ấy bác Cần gọi tôi sang uống nước. Nhà bác không có ti vi, chỉ có cái đài chạy pin đặt trên nóc tủ, đang nói chương trình thời sự. Bác pha chè, rót cho tôi một chén, rồi kể, giọng đều đều như người kể một việc đã kể nhiều lần.
Họ Trần Đình là họ lớn nhất làng Trà Trung ngày xưa, có nhà thờ họ từ đời cụ tổ, gần hai trăm năm. Chi trưởng ở ngay trên mảnh đất này. Nhà bác Cần cũng họ Trần, nhưng là chi dưới, nhiều đời làm muối, ở nhờ đất chi trưởng từ thời ông nội bác.
"Chi trưởng giờ không còn ai ở làng. Người cuối cùng là cụ Tụy, mất năm tám sáu. Từ hôm chôn cụ thì khoá nhà thờ lại."
Tôi hỏi ai khoá.
"Họ khoá. Lệ ở đây, nhà thờ chi trưởng thì chỉ người chi trưởng mới được mở. Không còn ai thì khoá. Chìa chôn theo cụ Tụy."
Tôi hỏi thế còn người chi trưởng ở nơi khác, con cháu đi làm ăn xa, không ai về à. Bác Cần nhấp chén chè, lâu lắm mới trả lời.
"Có đi thì có. Về thì chưa thấy."
Bác không nói thêm. Cái đài trên nóc tủ chuyển sang dự báo thời tiết, báo vùng biển Nam Định có gió mùa đông bắc về sớm.
* * *
Mẹ bác Cần ngồi ở hiên. Người làng gọi là cụ Tư, ngoài tám mươi, mắt loà gần hết, cả ngày ngồi trên cái ghế mây ở hiên, mặt quay ra sân, tay lần một chuỗi hạt bằng gỗ. Cụ không nhìn được, nhưng nghe tiếng bước chân là biết ai.
Sáng đầu tiên tôi đi qua, cụ gọi.
"Ai đấy?"
Tôi thưa là cô giáo mới về ở nhờ. Cụ im một lúc, rồi nói, không phải với tôi.
"Bước chân lạ. Mà quen."
Từ hôm ấy, sáng nào đi qua tôi cũng chào cụ. Cụ ừ. Có hôm cụ hỏi cô giáo quê ở đâu, tôi bảo thành phố, cụ không hỏi nữa, chuỗi hạt trên tay lần nhanh hơn một chút.
* * *
Tiếng bát bên nhà thờ không mất đi khi tôi khép cửa sổ. Nó chỉ nhỏ lại. Tôi vẫn nghe rõ, vì sân rất vắng, và vì tôi đã bắt đầu chờ nó.
Tối nào cũng thế. Tôi so đũa ba tiếng, bên ấy im. Tôi ăn xong, đặt bát xuống mâm, bên ấy đặt theo một tiếng. Khô, gọn, chậm hơn tôi đúng một nhịp thở.
Tôi thử ăn muộn. Hôm ấy tôi soạn bài đến lúc ếch ngoài ruộng muối kêu thành một dải dài mới dọn mâm, cơm đã nguội. Tôi đặt bát xuống. Cạch. Nó không theo giờ. Nó theo tôi.
Tôi thử không ăn. Một tối tôi ngồi đọc sách đến khuya, không nấu, bụng đói nhưng tôi muốn biết. Trời sập tối, chuông làng bên gõ chiều. Tôi ngồi yên, không chạm vào cái bát nào.
Bên ấy vẫn có tiếng bát đặt xuống. Một tiếng. Rồi im.
Thì ra nó không cần tôi. Tôi ăn hay không ăn, bên ấy vẫn có người ăn xong một bữa cơm vào giờ ấy. Những hôm trước, tiếng của tôi và tiếng của họ chỉ tình cờ chồng lên nhau, vì hai người ăn một mình thì giờ giấc giống nhau. Tôi tự giải thích như thế, và đêm ấy tôi ngủ được. Chỉ là tôi không giải thích được tại sao mình lại dùng chữ họ.
* * *
Cuối tháng Chín có gió mùa về thật. Buổi sáng sân lạnh, gạch ẩm, lá nhãn rụng thành lớp. Tôi dậy sớm ra bể nước mưa rửa mặt. Sân còn tối, chỉ có hiên nhà thờ hứng chút ánh sáng xám từ trên mái xuống.
Sợi xích trên cửa nhà thờ buông thõng.
Ổ khoá vẫn còn, treo lủng lẳng ở một đầu xích, nhưng càng khoá đã bật ra. Hai cánh cửa bức bàn vẫn khép, không hở một kẽ. Chỉ có cái khoá là mở.
Tôi đứng nhìn một lúc rồi chạy sang gọi bác Cần. Bác ra, đứng ở bậc hiên nhà mình nhìn sang, không bước xuống sân. Mặt bác lúc ấy tôi không quên được, nó không ngạc nhiên. Nó là mặt của người đã chờ một việc và việc ấy đến.
"Cô đừng đụng vào. Để nguyên thế."
Tôi hỏi ai mở. Bác bảo không ai mở cả. Tôi hỏi thế sao nó mở. Bác Cần quay vào nhà, lúc đi qua chỗ cụ Tư ngồi, tôi thấy cụ ngừng lần hạt.
Chiều tôi đi dạy về, ổ khoá đã đóng lại. Xích căng, khuyên thẳng, càng khoá ngập trong thân khoá. Tôi hỏi bác Nhàn ai khoá, bác bảo không biết, bác đi chợ Cồn cả ngày. Tôi hỏi bác Cần, bác bảo bác ở ngoài ruộng muối.
Tối ấy tôi không kê mâm ở bàn nữa. Tôi ngồi ăn dưới nền, lưng quay về phía cửa sổ. Ăn xong, tôi đặt bát xuống mâm thật nhẹ, gần như không thành tiếng.
Bên ấy vẫn đáp. Nhưng không phải tiếng bát.
Là tiếng sợi xích kéo qua hai cái khuyên sắt, chậm, từng mắt một, như có người đang tháo nó ra từ phía trong.