Chương 8: Đêm ba mươi
Khoảng 5 phút đọc·4lượt xem
Trường nghỉ Tết từ hai sáu tháng Chạp. Tôi gói quần áo từ tối hôm trước, sáng ra chào bác Cần bác Nhàn, chào cụ Tư, rồi đi bộ ra Cồn bắt xe về thành phố. Tôi đã định sẽ không quay lại. Tôi sẽ xin phòng giáo dục chuyển trường, nói lý do sức khoẻ, mẹ tôi sẽ lo được.
Xe khách đến. Tôi lên xe, ngồi cạnh cửa sổ, xe chạy. Qua ruộng muối. Qua cầu Lạc Quần. Đến ngã ba Hành Thiện thì tôi gõ vào thành xe bảo phụ xe cho xuống.
Tôi không nhớ mình nghĩ gì lúc ấy. Tôi chỉ nhớ hai chân mình đứng xuống đường, xe đi, và tôi bắt xe ôm quay lại Hải Lâm. Về đến sân nhà bác Cần lúc gần trưa. Bác Nhàn ra, nhìn tôi, nhìn cái túi quần áo, không nói gì, cầm túi vào gian nhà ngang hộ tôi.
Tối tôi gọi cho mẹ bằng cái điện thoại cục gạch, phải ra tận đầu ngõ mới có sóng. Tôi bảo trường phân trực Tết. Mẹ im một lúc rồi bảo thôi thế cũng được, mẹ gửi bánh xuống. Tôi biết mẹ không tin. Tôi biết mẹ sợ hỏi.
* * *
Chiều ba mươi, bác Nhàn làm mâm tất niên, bưng sang hiên nhà thờ như hôm giỗ. Hương cắm vào bát trên bậc cửa. Mâm để ngoài. Cửa không mở.
Lúc quay về, bác dừng trước gian tôi.
"Đêm nay cô sang nhà tôi."
Tôi lắc đầu. Bác Nhàn nhìn tôi, lần đầu tiên tôi thấy bác giận.
"Cô muốn gì?"
Tôi bảo tôi muốn biết. Bác Nhàn mím môi, rồi quay đi, và ở bậc hiên nhà mình bác nói với lại, giọng đã nhỏ xuống.
"Bà Cả hiền lắm. Cô đừng sợ bà. Cô sợ cái khác."
* * *
Giao thừa ở làng ven biển không có pháo hoa. Chỉ có tiếng ti vi nhà ai mở to vọng qua tường, tiếng chuông làng bên đổ hồi dài, rồi im. Bác Cần thắp hương ngoài sân, khấn, rồi vào cài cửa. Điện vẫn còn, bóng đèn gian tôi vàng vọt. Tôi tắt đi. Tôi ngồi trên giường, mặc áo bông, đi tất, tay cầm đèn pin. Tôi chờ.
Chó trong xóm thôi sủa, từng con một, như có người đi qua từng ngõ bảo im. Hơi lạnh lùa vào dưới khe cửa, mang theo mùi khói đèn dầu. Rồi bên kia sân có tiếng so đũa. Hai tiếng. Tiếng thứ ba gõ rất gần, ngay sau lưng tôi, vào thành giường gỗ.
Tôi đứng dậy.
Sân lạnh, gạch ướt sương, đèn pin tôi không bật. Trăng không có, đêm ba mươi. Tôi đi bằng trí nhớ, bảy bước, tám bước, đến bậc hiên. Mâm tất niên nằm nguyên dưới chân. Tôi bước qua.
Sợi xích buông thõng. Ổ khoá bật càng, treo ở một đầu.
Tôi đặt tay lên cánh cửa bức bàn. Gỗ lim lạnh, ráp. Tôi đẩy. Cửa không cài then. Nó mở vào trong, nặng, không kêu một tiếng.
* * *
Đèn dầu trên góc phản. Chiếu hoa. Mâm đồng. Sáu cái bát, năm úp, một ngửa ở mép mâm quay về phía cửa, cơm có ngọn, đũa gác ngang. Mùi cơm mới. Mùi cá kho riềng. Mùi hương trầm đã tàn từ lâu.
Và một người đàn bà ngồi ở mép phản bên kia mâm, quay lưng ra cửa.
Bà mặc áo cánh nâu, quần thâm, tóc vấn khăn, lưng gầy và thẳng, kiểu lưng của người già cả đời không chịu còng. Bà đang so đũa. Hai chiếc đũa dựng đứng trong tay, gõ xuống mâm, chậm, từng tiếng một, như người gõ cho trẻ con đếm theo.
Rồi bà đặt đũa gác lên bát ngửa, đưa tay đẩy bát ấy đi một đoạn trên mặt mâm, đẩy về phía chỗ ngồi trống đối diện. Về phía tôi.
Bà không quay lại. Bà nói, giọng khàn và thấp, giọng người mạn biển, cái giọng bà tôi vẫn dùng khi gọi tôi dậy đi học.
"Ngồi xuống đi con. Cơm nguội."
Tôi đứng ở ngưỡng cửa. Miệng tôi khô. Tôi nói, và không nhận ra giọng mình.
"Cháu không phải người nhà này."
Bà im một lúc. Rồi bà đưa tay lên, chạm vào búi tóc sau gáy, lần lần, như tìm một thứ vẫn cài ở đó mà giờ không còn. Bàn tay bà gầy, da mỏng, gân nổi. Bàn tay ấy dừng lại trên búi tóc trống.
"Thế sao con biết so đũa."
Bà bắt đầu quay lại. Rất chậm, vai trước, rồi cổ. Ngọn đèn dầu bùng lên một cái, sáng hẳn, và trong một chớp mắt tôi thấy một bên mặt bà. Hõm má. Khoé miệng. Một cái răng khểnh bên trái, lộ ra vì bà đang cười.
Tôi chạy.
Tôi không nhớ mình quay người lúc nào. Tôi nhớ bậc hiên vấp vào ống chân, nhớ mâm tất niên đổ, con gà lăn trên gạch, nhớ mình ngã sấp xuống sân và gạch ướt đập vào cằm. Sau lưng tôi hai cánh cửa bức bàn đóng sầm. Sợi xích chạy qua hai cái khuyên, từng mắt một, nhanh, rồi ổ khoá khép lại kêu cạch, đúng cái tiếng bát đặt xuống mâm.
Bác Cần đứng ở hiên nhà mình, tay cầm đèn dầu, mặt không đổi. Mũi dép bác dừng đúng ở mép bậc hiên, như có ai kẻ vạch ở đấy.
"Vào nhà tôi."
* * *
Sáng mồng Một tôi về gian nhà ngang lấy quần áo. Cửa tôi vẫn khoá bấm, chìa vẫn trong túi tôi. Trong nhà mọi thứ nguyên chỗ. Tôi mở ngăn tủ dưới cùng, lấy cái hộp gỗ của bà ra, tự dưng muốn cầm nó trong tay.
Trong hộp còn cái lược sừng gãy răng.
Cây trâm bạc cong không còn. Chỗ nó nằm bao nhiêu năm, trên lớp vải lót đã ngả vàng, vẫn còn một vệt sẫm hình cây trâm, như nó vừa được nhấc đi.