Chương 2: Bậc thang thứ ba
Khoảng 5 phút đọc·4lượt xem
Từ hôm đó, chiều nào anh Lâm cũng ra chợ đêm.
Không phải tôi đoán. Tôi đi theo. Chiều thứ hai, tôi dẹp sạp sớm, đứng ở đầu dốc chỗ khách sạn cũ nhìn xuống đường Phan Đình Phùng. Anh tan xưởng, dắt xe đạp ra, không đạp về phía dốc Nhà Làng mà quẹo xuống chợ. Anh dựng xe ở chân tường, đi bộ tới dãy bậc thang, bước lên ba bậc, rồi đứng.
Chiều thứ ba cũng vậy. Chiều thứ tư cũng vậy. Bậc thứ ba, không cao hơn, không thấp hơn. Anh đứng tới khi tôi ra kéo về, có bữa tôi để thử, anh đứng tới khi chợ vãn khách, sạp hoa dọn hàng, bóng đèn sạc tắt. Rồi anh tự đi về. Về tới nhà, anh nói anh ghé xưởng làm thêm.
Anh không nói dối kiểu người ta giấu chuyện. Anh nói như người tin mình nói thật.
* * *
Sáng thứ năm, ly cà phê tôi pha anh uống tới nửa thì đặt xuống.
Anh nói hôm nay cà phê đắng. Tôi nói vẫn phin đó, vẫn gói cà phê đó, vẫn ba muỗng sữa. Anh gật, cầm ly lên, nhìn vào lòng ly một hồi rồi để xuống lại. Anh đi làm. Ly cà phê còn một nửa, sữa lắng xuống đáy thành một lớp trắng đục.
Ba năm. Chưa sáng nào anh bỏ dở ly cà phê tôi pha.
Tôi ngồi một mình bên bàn rất lâu. Tôi không đổ nửa ly đó vô bồn rửa. Tôi bưng nó ra cửa sổ, chậm rãi rưới vô gốc chậu gừng, từng chút, cho đất uống hết.
* * *
Chiều đó tôi xuống chợ đêm sớm hơn anh. Tôi không đứng ở bậc thang. Tôi ghé sạp bắp nướng của o Diệu, cách sạp hoa chừng năm sạp, ngồi xuống cái ghế nhựa thấp, gọi một trái bắp.
O Diệu người Huế, lên Đà Lạt từ hồi con gái, bán bắp ở góc chợ này gần hai chục năm. O quen mạ tôi. O lật trái bắp trên bếp than, quạt phành phạch, mắt không nhìn tôi.
"Ông nhà con đó hả?"
Tôi hỏi o sao biết. O hất cằm về phía bậc thang. Anh Lâm vừa tới, đang bước lên bậc thứ ba.
"Cả tuần chừ chiều mô cũng đứng đó. Đứng như trời trồng. Người ta đi ngang ai cũng ngó. O tưởng thằng nớ khùng."
Tôi hỏi o có biết người bán hoa không. O nói không rành. Chị ta mới ra bán từ đầu mùa họa mi, chừng hơn tháng. Ít nói, giá phải chăng, không chèo kéo khách. Có bữa dắt theo một đứa con gái nhỏ.
O phết mỡ hành lên trái bắp, đưa cho tôi, rồi hạ giọng.
"Con nghe o. Đàn ông đang yên đang lành mà đứng ngó một người đàn bà như rứa, không phải thương mô. Thương thì người ta lại gần, người ta nói chuyện. Cái ni là bị bỏ bùa rồi."
Tôi cầm trái bắp nóng, không ăn. O nói tiếp, giọng như kể chuyện thời tiết. Hồi xưa trong chợ này có bà bán áo len bỏ bùa ông chủ sạp vải. Ông chủ sạp bỏ vợ, bỏ con, ngày nào cũng ra đứng ngó bà bán áo len như vậy. Ba năm sau bà kia chết, ông nọ khóc như cha chết, rồi tự nhiên tỉnh, về quỳ trước cửa nhà vợ cũ. Vợ cũ không mở cửa.
"Bùa yêu là rứa đó con. Nó không làm người ta thương. Nó làm người ta quên."
Tôi nói cảm ơn o, trả tiền bắp. Tay tôi run. Tôi nói với mình là tại lạnh.
* * *
Tôi đi xuống, ngang qua sạp hoa. Lần này tôi nhìn kỹ hơn.
Người đàn bà ngồi trên cái ghế đẩu gỗ, lưng thẳng, hai đầu gối khép, mấy bó cúc họa mi xếp trên tấm bạt dưới chân. Chị ta bó hoa không nhìn tay. Tay chị ta tự làm. Rút một nắm cúc, gõ nhẹ gốc xuống bạt cho bằng, quấn lạt tre ba vòng, bẻ lạt giắt vô. Mắt chị ta nhìn đâu đó phía trên đầu khách, phía đầu dốc.
Tôi đi ngang mà chị ta không ngẩng lên. Tôi cũng không mua.
Lúc tôi tới bậc thang, anh Lâm vẫn đứng đó. Tôi đứng bên anh. Lần này anh biết tôi tới. Anh nói nhỏ, không quay qua:
"Em thấy không. Chị đó bó hoa ba vòng lạt."
Tôi hỏi rồi sao. Anh nghĩ một hồi.
"Không biết. Anh thấy quen."
Tôi kéo tay anh về. Anh đi theo, ngoan như đứa nhỏ.
* * *
Đêm đó trời trở lạnh. Tôi đắp cho anh hai lớp mền, tự mình nằm sát vách, nghe gió lùa qua khe ván thông, nghe mấy con chó nhà bên sủa rồi thôi.
Gần sáng tôi tỉnh vì tiếng ngâm nga.
Anh Lâm vẫn ngủ. Mắt nhắm, hơi thở đều, mà miệng anh ngâm cái điệu đó. Không phải ngâm khẽ như lúc anh chà giấy nhám. Ngâm rõ, đủ cả câu, lên xuống từng khúc, như đang ru một đứa nhỏ nằm cạnh. Tay phải anh đặt trên mền, vỗ nhè nhẹ vào khoảng trống giữa anh với tôi. Vỗ đều, chậm.
Tôi nằm cứng, nhìn bàn tay anh vỗ lên chỗ không có ai.
Rồi anh ngưng ngâm. Anh nói, giọng còn ngái ngủ, rõ từng chữ:
"Na, vô nhà đi con. Sương xuống rồi."
Tôi không hỏi. Tôi nằm im cho tới khi trời sáng.
Sáng ra anh không nhớ gì. Tôi cũng không nhắc. Tôi dậy pha cà phê như mọi sáng, đứng chờ phin nhỏ giọt bên cửa sổ. Tôi gỡ bịch ni lông trùm chậu gừng.
Trong đất, sát gốc, có mấy cánh hoa trắng nhỏ rơi rải rác. Cánh cúc họa mi. Tôi chưa hề đem bông hoa hôm trước lại gần chậu này. Tôi đã vứt nó vào sọt rác ngoài hiên.