Chương 3: Lá bùa may trong gối
Khoảng 4 phút đọc·4lượt xem
Chị Hằng bán vải sạp bên cạnh là người chỉ tôi tới cô Thìn.
Chị Hằng người Nam Định, theo chồng vào Đà Lạt từ hồi hai mươi tuổi, giọng vẫn nặng như mới ra ga. Chị nghe tôi kể chuyện anh Lâm đứng ở bậc thang thì đặt cây kéo xuống, kéo ghế sát lại.
"Thế thì đúng rồi còn gì nữa. Em đi cô Thìn ngay đi. Cô ấy giải cho bao nhiêu người rồi. Chần chừ là mất chồng đấy."
Tôi hỏi giải tốn bao nhiêu. Chị xua tay, nói tiền nào bằng chồng.
* * *
Điện thờ cô Thìn nằm trong một con hẻm ở Phường 8, sau mấy luống rau cải. Nhà xây, mái tôn, gian trước bày một cái điện đỏ chói, tượng to tượng nhỏ, đèn nháy chạy vòng. Mùi trầm đặc tới nỗi tôi phải thở bằng miệng.
Cô Thìn ngoài năm mươi, mập, đeo vòng ngọc hai tay. Cô hỏi tên tuổi anh Lâm, năm sinh, giờ sinh. Năm sinh tôi biết. Giờ sinh tôi nói không biết. Cô hỏi tên người đàn bà bán hoa. Tôi nói không biết. Cô nhíu mày.
"Không biết tên thì khó. Thôi được. Để cô xem."
Cô thắp một nắm nhang, khấn một hồi dài tôi nghe không ra chữ nào. Rồi cô lắc ống xăm, rút ra một thẻ, đọc, gật gù.
"Đúng rồi. Bị bỏ bùa. Con kia nó dùng bùa mê, mạnh lắm. Nó lấy được cái gì của chồng con rồi, tóc hay áo hay cái gì đấy. Phải cắt ngay, để lâu là ngấm vào xương."
Tôi hỏi cắt bằng cách nào. Cô lấy ra một lá bùa giấy vàng, vẽ chữ đỏ ngoằn ngoèo, gấp làm tám, bọc trong miếng vải đỏ, khâu kín ba mép.
"Về khâu vào trong gối nó nằm. Bảy đêm. Nó nằm đủ bảy đêm là sạch. Hai triệu, cô lấy đúng tiền vàng mã với lễ."
Tôi đưa tiền. Tôi biết tôi đang làm một chuyện dại. Nhưng tôi không biết làm chuyện khôn nào khác.
Ra tới đầu hẻm, tôi nghe sau lưng cô Thìn nói với ai đó trong nhà, giọng đổi hẳn, nhẹ tênh:
"Con này cũng tội. Mà nhìn mặt nó, chả biết ai bỏ bùa ai."
Tôi không quay lại.
* * *
Tối đó anh Lâm về muộn như mọi tối, ăn cơm, đi tắm. Tôi ngồi trong buồng, tháo đường chỉ gối, nhét lá bùa vào giữa ruột bông, khâu lại. Mũi may của tôi đều, khít, không ai nhận ra. Đầu kim đâm vào ngón giữa một cái, máu rịn ra một chấm. Tôi mút ngón tay, khâu tiếp.
Lúc anh lên giường, tôi nằm quay mặt vào vách, nghe anh ngả đầu lên gối. Anh trở mình mấy lần. Anh nói gối hôm nay cộm. Tôi nói tại bông lâu ngày vón cục. Anh im.
* * *
Sáng hôm sau, lúc tôi bưng ly cà phê ra bàn, anh Lâm đã ngồi sẵn đó. Anh nhìn ly cà phê sữa, rồi ngẩng lên.
"Em pha anh ly đen đi. Không đường."
Tôi đứng yên, tay còn cầm cái phin.
"Ba năm nay anh uống sữa mà."
"Ờ." Anh gãi đầu, cười ngượng. "Mà hồi xưa anh uống đen. Hồi xưa, ở nhà. Tự nhiên sáng nay thèm."
Tôi hỏi nhà nào. Anh nhìn ra cửa sổ, nhìn chậu gừng, nhìn xa hơn chậu gừng, ra phía rặng thông bên kia thung lũng.
"Em nói coi. Hồi trước khi xuống Bảo Lộc, anh ở đâu?"
Tôi nói anh ở trọ dưới Đức Trọng, làm thuê cho mấy vựa rau. Tôi nói câu đó trơn tru, không vấp chữ nào.
Anh gật. Anh nói vậy hả. Rồi anh cầm ly cà phê sữa lên, uống một ngụm, nhăn mặt, đặt xuống. Anh đi làm, để lại gần nguyên ly.
Tôi không pha ly đen. Sáng hôm sau, sáng hôm sau nữa, tôi vẫn pha sữa. Anh vẫn uống một ngụm rồi để đó. Tôi vẫn bưng phần còn lại ra rưới vào gốc chậu gừng.
Đất trong chậu bắt đầu có mùi. Không phải mùi cà phê. Một mùi đắng hăng, khô khô, giống mùi nhựa lá cúc khi người ta bẻ cuống.
* * *
Đêm thứ tư anh nằm trên cái gối có lá bùa, tôi thức giấc vì lạnh.
Không phải cái lạnh bình thường của Đà Lạt tháng Mười một. Cái lạnh lùa vào từ phía chân giường, ướt, có mùi sương với mùi lá thông. Tôi quờ tay sang bên. Chỗ anh Lâm nằm trống. Mền tốc lên một góc. Ruột gối bị xé toạc một đường dài, bông trắng lòi ra.
Lá bùa của cô Thìn nằm dưới đất, cạnh chân giường. Miếng vải đỏ bị bóc ra. Tờ giấy vàng mở phẳng, như có ai đã ngồi đọc kỹ rồi đặt xuống.
Tôi chạy ra gian trước. Cửa chính mở toang. Ngoài kia sương đặc tới nỗi tôi không thấy cái cổng cách nhà năm bước. Dưới chân, trên mặt ván ướt, có một hàng dấu bàn chân trần đi ra. Và giữa sương, từ phía dưới dốc, vọng lên tiếng ai đang ngâm nga cái điệu đó, kéo dài, rồi tắt.