Chương 6: Ông thầy dưới Đơn Dương
Khoảng 4 phút đọc·4lượt xem
Tôi nói với anh, tụi mình quen nhau ở Bảo Lộc. Anh gật, nói vậy hả, rồi đi ngủ. Tôi nằm cạnh anh, nghe anh thở, và đếm từng giọt nước sương nhỏ xuống mái tôn cho tới sáng.
Sáng hôm sau tôi xuống chợ sớm, ghé sạp o Diệu. O đang nhóm lò, khói than cay xè. Tôi kể hết chuyện cô Thìn, lá bùa, chuyện anh Lâm đêm đi chân trần xuống chợ. Tôi không kể chuyện con bé có cái xoáy tóc. Tôi không kể câu người đàn bà bán hoa nói về cái chậu.
O nghe xong, thổi lửa một hồi rồi nói:
"Cô Thìn đó làm ăn chơi. Con muốn giải thiệt thì xuống Đơn Dương, kiếm ông Ba. Ông người Bắc, di cư vô từ năm năm tư. Hồi trẻ ông chữa rắn cắn, sau chữa luôn cái thứ ni. Ông không lấy tiền. Mà ông nói thiệt, nghe đau lắm à nghe."
O ghi cho tôi tên thôn trên một mẩu giấy gói bắp.
* * *
Chủ nhật tôi mượn chiếc Wave của chị Hằng, nói với anh Lâm là đi thăm người quen của mạ dưới Đơn Dương. Anh chở tôi. Anh chạy xe chắc tay, chậm, như mọi khi.
Đường xuống Đơn Dương phải đi qua Trại Mát, rồi qua Trạm Hành, rồi đổ đèo D'Ran. Qua khỏi ga Trại Mát, hai bên đường là ruộng hoa, nhà kính phủ ni lông trắng nối nhau chạy tít xuống thung lũng. Mùa này cúc đang lên. Nắng sớm chiếu qua lớp ni lông, nhìn từ trên đường xuống như một mặt hồ trắng đục.
Tôi ngồi sau, ôm eo anh. Tôi thấy lưng anh cứng lại.
Anh giảm ga. Tôi bảo anh chạy đi, kẻo trưa. Anh không nghe.
Anh tấp xe vào lề, chống chân, nhìn xuống một khoảnh ruộng cách đường chừng trăm thước. Ba dãy nhà kính cũ, ni lông rách tả tơi, khung tre xiêu vẹo. Không ai trồng. Cỏ lên tới gối. Sau dãy nhà kính có một căn nhà cấp bốn mái tôn, cửa đóng, và cạnh đó một cái kho nhỏ xây gạch không tô.
Đầu lối đi vào có một gốc cây bị cưa, chỉ còn lại cái gốc cụt ngủn.
"Chỗ đó hồi xưa có cây hồng xiêm," anh nói. "Trái nhỏ mà ngọt."
Tôi hỏi sao anh biết. Anh không trả lời. Anh nhìn căn nhà, nhìn cái kho. Môi anh mấp máy.
Tôi ghé sát tai anh. Anh đang đếm. Đếm dãy nhà kính. Một, hai, ba.
Tôi bấm mạnh tay vào hông anh, nói anh chạy đi, em lạnh. Anh giật mình, vặn ga. Suốt đoạn đèo D'Ran anh không nói câu nào.
* * *
Nhà ông Ba nằm cuối một con đường đất đỏ giữa mấy rẫy hành tây. Nhà gỗ, mái ngói âm dương đã rêu, hiên trước treo lủng lẳng mấy bó lá khô. Ông ngồi trên cái chõng tre, gầy như que củi, tóc trắng cắt ngắn, mặc áo bà ba nâu bạc. Bên cạnh ông là một dãy hũ rượu ngâm, trong đó cuộn những con rắn đã bạc màu.
Tôi chào, nói o Diệu dưới chợ đêm chỉ tới. Ông gật, không hỏi chuyện gì. Ông chỉ nhìn anh Lâm.
"Anh này ngồi xuống đây."
Anh Lâm ngồi xuống chõng. Ông Ba nắm cổ tay anh, bắt mạch một hồi lâu. Rồi ông lấy ngón cái kéo mi mắt dưới của anh xuống, nhìn lòng trắng. Ông ấn mạnh vào chỗ hõm sau dái tai anh. Anh nhăn mặt. Ông bảo anh há miệng, ghé mũi ngửi hơi thở anh. Ông làm chậm, kỹ, như người thợ coi một cái máy cũ.
Xong, ông vỗ vai anh Lâm.
"Anh ra ngoài vườn ngồi chơi với thằng con tôi. Nó đang tưới hành. Để tôi nói chuyện với cô đây."
Anh Lâm nhìn tôi. Tôi gật. Anh đi ra.
* * *
Ông Ba rót cho tôi một chén nước chè xanh, rót cho mình một chén. Ông uống một ngụm, đặt xuống, nhìn ra cửa, chỗ anh Lâm đang ngồi xổm bên luống hành.
"Có bùa."
Tôi thở ra. Tôi thấy mình nhẹ hẳn, nhẹ tới phát run. Có bùa. Vậy là không phải tại anh. Vậy là có thể giải.
"Thầy giải giùm con. Con xin thầy. Bao nhiêu con cũng lo. Con đàn bà bán hoa đó, nó..."
Ông Ba giơ tay lên, chặn tôi lại.
"Từ từ đã. Bùa này là ngải. Loại nuôi bằng máu người. Không phải ai cũng nuôi được. Phải ngày nào cũng cho nó ăn, phải để nó gần người mình muốn giữ. Tôi ngửi hơi anh ấy, thấy mùi nó còn, nhưng nhạt. Nhạt lắm rồi."
Ông nhìn tôi. Mắt ông đục, mà nhìn thẳng tới mức tôi phải cúi xuống chén nước.
"Cô chìa bàn tay trái ra cho tôi xem."
Tôi không hiểu. Tôi chìa tay ra. Ông Ba không nắm lấy. Ông chỉ cúi xuống, nhìn đầu ngón giữa của tôi, chỗ mấy vết kim cũ mới chồng lên nhau, chỗ da đã chai thành một cái nốt nhỏ màu tím.
Ông nhìn rất lâu. Rồi ông ngẩng lên.
"Cô làm nghề gì?"