☾ Truyện Ma Có Thật
← Góc hầm dưới bếp

Chương 11: Chiếc khăn trắng

Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem

Người đàn bà kêu lên ở bờ rào hôm ấy là bà Đồ Hậu. Bà không chịu chạy, đứng chắn cổng nhà mình, vì con Bống còn trốn trong đống rơm sau bếp. Một phát súng. Con Bống sống. Bà Đồ nằm ở bờ rào duối đến khi Tây đi, ống nhổ bằng đồng lăn ra giữa ngõ.

Chiều hôm ấy làng chôn bà Đồ và hai người nữa ở gò Đống Cao. U tôi dắt tôi đi đưa. Chôn xong, người ta về hết, u vẫn đứng đó. U đợi đến khi cánh đồng chiêm chỉ còn hai mẹ con, gió thổi rạp những ngọn cỏ may. Rồi u dắt tôi đến cái ụ đất cạnh mộ ông Khóa. Cái que tre. Mảnh xà cạp chàm.

U ngồi xuống. U thò tay vào trong yếm, lấy ra một dải vải trắng gấp nhỏ, nhàu nát, ngả vàng vì mồ hôi. U giũ nó ra, quấn lên đầu. Một chiếc khăn tang.

"U đeo nó trong người từ hôm đầu tiên đến Ngọc Trì."

* * *

U kể. Giọng u đều đều, không khóc, như người kể chuyện của người khác.

Hôm ấy ở cổng, ông Mão nói với u một câu. Anh Hưng mất rồi, chị ạ. Anh ấy mất ngày mười bảy tháng Hai, trong cái hầm nhà ông Khóa. Thầy tôi sang Ngọc Trì từ tháng Giêng, vừa làm việc cho đội, vừa nhờ ông Mão tìm chỗ cho nhà tôi. Cái hầm dưới bếp nhà ông Khóa, thầy tôi đào thêm, khoét thêm cái lỗ thông hơi, đóng thêm cái móc dưới đáy bồ trấu. Thầy tôi đào cái hầm ấy cho chúng tôi trú.

Rồi Tây về. Có người dẫn đường. Thầy tôi ở dưới hầm. Chúng đứng trên miệng hầm mà bắn xuống.

"Ông Mão bảo lúc người làng kéo thầy lên, thầy ngồi trong góc. Tay phải ôm ngực. Tay trái đặt lên môi, như bảo ai im. Dưới hầm chỉ có mình thầy. Không ai biết thầy bảo ai im."

Tôi nhìn cái que tre. Câu thầy nói ở gầm phản, cái vế sau tôi chưa bao giờ nghĩ lại: vì có thầy đây. Thầy ở đây thật. Suốt từ tháng Hai, thầy ngồi cách chúng tôi một sải tay, bảo cả nhà im.

Ông Mão đã định cho nhà tôi ở nhà khác. U không chịu. U đòi ở nhà ông Khóa, ở đúng trên cái hầm ấy. U bảo ông Mão đừng nói với ai, nhất là bà.

"Đêm thầy đi theo tự vệ, bà với thầy cãi nhau. Bà bảo mày đi thì coi như tao không đẻ ra mày. Thầy đi không chào bà. Bà mà biết thầy chết, bà chết theo mất. U nghĩ thế."

U im một lúc. Rồi u nói câu u nhịn từ đầu.

"U chưa thấy thầy lần nào, Nhài ạ. Chưa lần nào. Đêm nào u cũng ra miệng hầm. U xin. Một lần thôi. Thầy không cho u thấy."

* * *

Tôi hỏi u, thế sao mỗi lần xuống hầm u lại đếm. Có bốn người thì đếm làm gì. U nhìn ra cánh đồng.

"U đếm cho thầy nghe. Để thầy biết là không thiếu đứa nào. Thầy yên thì... thầy đi."

Tôi ngồi xuống cạnh u. Rồi tôi kể. Tôi kể cái nắm cơm tôi để dưới hầm, rồi thấy ở chân que tre này. Tôi kể hoa cỏ may ở ống quần bà. Tôi kể bà khấn con ơi ăn đi rồi đi đi, ở đây lạnh lắm. Tôi kể đêm tôi gõ hai cái lên môi thằng Cốm, bà bật khóc. Tôi kể đêm qua bà nắm tay tôi, bảo nếu con thấy nó thì bảo nó bà không giận.

U nghe đến đâu, mặt u trắng ra đến đó.

"Bà biết rồi, u ạ. Bà biết từ trước."

U úp mặt vào hai bàn tay. Lần này u khóc thành tiếng, giữa cánh đồng chiêm, cạnh cái que tre không tên. Ba người trong một nhà. Ai cũng biết. Ai cũng giấu. Ai cũng tưởng mình đang che cho người kia. Mỗi đêm cùng ngồi dưới một cái hầm, cách thầy tôi một sải tay, mà không ai nói ra một chữ.

Chỉ có thằng Cốm là không giấu. Nó hỏi chú ơi chú không ăn à. Và u đã tát nó.

* * *

Tối ấy u bảo tôi xuống hầm với u. Không có tàu bay, không có trống. Bà nằm trong buồng. Thằng Cốm ngủ cạnh bà. U châm đèn dầu lạc, tay run đến nỗi phải quẹt ba que diêm.

Người ấy ngồi trong góc. Thầy tôi ngồi trong góc. Đầu cúi. Tay phải áp ngực. Ngọn đèn không ngả như mọi lần. Nó run, giật từng cái nhỏ, như hơi thở của người đang cố nín.

U ngồi xuống trước góc ấy. U nhìn vào khoảng không trước mặt. Tôi biết u không thấy gì. Tôi cầm lấy bàn tay u, đưa ra phía trước, chậm thôi, đến khi tay u chạm vào cái lạnh. Tay u giật lại. Rồi u đưa ra lần nữa, để yên trong cái lạnh ấy.

"Anh."

Chỉ một chữ. Rồi u không nói được gì nữa.

Thầy tôi ngẩng đầu lên. Thầy nhìn u. Tôi thấy thầy nhấc bàn tay phải ra khỏi ngực, lần đầu tiên. Ngực áo chỗ ấy thủng một lỗ, sẫm đen. Thầy đặt bàn tay ấy lên trên bàn tay u. U rùng mình, nhưng không rút tay ra.

Tôi nói, giọng tôi khàn đi.

"Thầy ơi. Bà bảo bà không giận thầy. Bà bảo con nói với thầy thế."

Thầy quay đầu. Không nhìn tôi, cũng không nhìn u. Thầy ngẩng lên nhìn qua miệng hầm, qua gian bếp, về phía buồng, nơi bà đang nằm.

Đúng lúc ấy, từ trong buồng, tiếng bà vọng ra. Rõ ràng, không còn khàn, không còn yếu, như giọng bà hồi còn ở phố Hàng Thao gọi thầy tôi về ăn cơm.

"Hưng ơi."

Từ hôm sang sông, đó là lần đầu tiên có người trong nhà gọi tên thầy tôi.