☾ Truyện Ma Có Thật
← Trảng cát không dấu chân

Chương 10: Cát lún sau lưng

Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem

Người ta đưa Phú về nghĩa trang liệt sĩ Đường Chín ở Đông Hà vào cuối tháng Tư. Huyện báo về Thái Bình. Em gái Phú vào, tên Thắm, sáu mươi tuổi, tóc bạc quá nửa, đi cùng một đứa cháu trai. Bà Thắm là người duy nhất còn lại trong nhà. Cha mẹ Phú mất từ những năm tám mươi, mất mà vẫn nghĩ con nằm đâu đó không ai biết.

Ở nghĩa trang, sau khi đắp mộ xong, bà Thắm ngồi lại bên tôi trên bậc đá. Bà không hỏi tôi tại sao ba mươi mốt năm. Bà chỉ hỏi một câu.

"Anh tôi có đau lâu không, chú."

Tôi nhìn cái mộ mới, cát còn ướt, nhang chưa tàn. Tôi đã quyết từ hôm ở huyện đội là tôi không nói dối về Phú nữa. Tôi há miệng. Rồi tôi nói:

"Không lâu đâu chị."

Bà Thắm gật, lau mắt, cảm ơn tôi. Đó là lần nói dối cuối cùng của tôi. Tôi nghĩ vậy. Và tôi nghĩ Phú sẽ cho tôi lần này.

* * *

Đội Bốn rà xong trảng Bàu Sen cuối tháng Năm, sớm hơn kế hoạch. Khoảng giữa sau khi quy tập, đi băng hai lượt, không có gì. Quân nói, cát sâu, có gì thì cũng không ai đụng tới. Lần này tôi không cãi.

Người ta cắm biển sắt sơn trắng ở bốn góc trảng, ghi đã rà phá, cho phép canh tác. Xã chia trảng cho mấy hộ trồng dương với trồng dưa. Bà Thỉ mất tháng Bảy năm ấy, nhẹ nhàng trong giấc ngủ. Cu Tí con ông Bốn tới đám ma bà bằng cái chân gỗ, đứng rất lâu trước bàn thờ.

Đội Bốn đi trảng khác, bên Cam Lộ. Quân rủ tôi theo, nói chú có mắt thần. Tôi nói, không, mắt tôi hết thần rồi. Quân cười, không ép.

Lâm ôm tôi lúc chia tay, chân đã lành. Hạnh không ôm. Hạnh đưa tôi một cuộn băng cứu thương mới, nói chú giữ, tay chú hay rách. Rồi Hạnh lấy trong túi áo ra mảnh tấm tăng gấp tư, đặt vào tay tôi, không nói gì.

Tôi về làm ruộng.

* * *

Tôi không còn thấy ông ấy nữa. Tai trái tôi vẫn ù như ba mươi mốt năm nay, nhưng chỉ là tiếng ù. Không có chữ. Tháng Ba năm sau tôi không nói mớ, Lành bảo vậy.

Nhưng có một chuyện tôi không nói với Lành, và không nói với ai, cho tới bây giờ.

Chuyện bắt đầu từ chiều đầu tiên sau khi đội rút. Tôi ra trảng một mình, lúc tắt nắng, không có việc gì, chân tự đi. Trảng trống, cát trắng, mấy cái biển sắt mới, bốn cái cọc tre Quân để lại ở chỗ hố đã lấp. Tôi đi tới bốn cái cọc, đứng một lúc, rồi quay về.

Đi được chừng chục bước thì tôi nghe.

Phía sau lưng tôi, cát lún. Tiếng cát lún dưới một bàn chân, rồi bàn chân nữa. Chậm. Đều. Theo đúng nhịp bước của tôi. Tôi dừng, tiếng ấy dừng. Tôi bước, nó bước.

Tôi không quay lại. Người ta dặn tôi từ nhỏ, đi đường vắng nghe tiếng chân sau lưng thì đừng quay lại. Nhưng tôi không quay lại không phải vì sợ. Tôi đi tiếp tới mép trảng, lên đường đất, và tiếng chân ấy dừng ở mép cát, không theo lên đường.

Sáng hôm sau tôi ra lại. Trên cát, từ bốn cái cọc tre tới mép trảng, có một hàng dấu chân. Dép cao su. Cỡ chân nhỏ. In rõ từng vân đế, ngay cạnh hàng dấu chân của tôi hôm trước, lệch về sau một bước, theo tới mép đường thì hết.

Ba mươi mốt năm ông ấy đứng ở trảng này mà không bao giờ để lại một dấu chân. Người ta đã đưa ông ấy về Đường Chín, đắp mộ, thắp nhang. Mà trên cát trảng Bàu Sen, dấu chân ông ấy bắt đầu xuất hiện từ ngày ấy.

Không phải dấu chân của người đứng chờ. Dấu chân của người đi theo.

* * *

Từ đó, mỗi chiều tôi ra trảng.

Lành không hỏi. Có hôm bà đưa tôi gói muối, có hôm bà đưa cái áo khoác, có hôm bà không đưa gì, chỉ nhìn tôi đi ra cổng. Tôi ra trảng, đi từ bốn cái cọc tới mép đường, chậm, mỗi chiều một lần. Sau lưng tôi cát lún theo từng bước, đều, chậm, không bao giờ vượt lên, không bao giờ kêu tôi.

Tôi không biết đi bao lâu thì đủ. Có lẽ không có đủ. Có lẽ người ta bò theo mình hai chục thước với bụng vỡ thì mình phải đi trước người ta cho hết phần đời còn lại.

Chiều nay tôi bảy mươi tuổi, chân yếu, đi từ cọc tới đường mất gấp đôi hồi năm mươi. Tiếng chân sau lưng cũng chậm theo. Vẫn lệch về sau một bước.

Hôm qua, lần đầu tiên, nó lệch chỉ còn nửa bước.