Chương 9: Mười hai bước
Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem
Tôi không đào tiếp. Tôi ngồi dưới hố với chiếc dép trong tay tới khi trời sáng, và lần đầu tiên trong ba mươi mốt năm, tôi ngồi cạnh Phú mà không chạy.
Ông ấy đứng đó tới lúc trời hửng. Khi tiếng xe u-oát vọng từ đường cái vào, tôi quay sang, ông ấy không còn ở đó. Lần này tôi không nhìn thấy ông ấy đi. Nhưng tôi thấy trên cát ẩm dưới hố, chỗ ông ấy đứng, có một chỗ lõm nhẹ, hình hai bàn chân.
Dấu chân đầu tiên trong một tháng.
* * *
Quân xuống hố nhìn chiếc dép, nhìn mấy đốt xương ngón chân tôi đã gạt cát hở ra, rồi đứng dậy nói với cả đội, giọng khác hẳn mọi ngày. Hôm nay không đào. Hôm nay quy tập.
Quân gọi về huyện. Dũng xuống cùng hai người của đội quy tập tỉnh, mang theo túi vải đỏ, giấy, nhang, một tấm bạt sạch. Người ta cho mọi người lùi lại, chỉ để ba người xuống hố, làm bằng bay nhỏ và chổi lông, từng phân một. Tôi được ngồi ở miệng hố. Hạnh ngồi cạnh tôi, không nói gì, thỉnh thoảng đặt tay lên lưng tôi.
Tới trưa thì thấy rõ.
Phú nằm nghiêng về bên phải, co người, đầu về hướng bắc, chân về hướng gốc dương. Không nằm ngửa như lúc tôi bỏ đi. Xương hai đầu gối và xương cẳng chân nằm chênh lên trước, kiểu người quỳ rồi đổ nghiêng. Mũ cối ở cạnh đầu, mép mũ sứt một miếng. Thắt lưng da còn khoá sắt. Bên hông một cái bi đông nhôm méo, nắp mất, thân khắc nguệch ngoạc một chữ P. Trong túi áo ngực, khi người ta nhấc lớp vải mục ra, có một cái lược nhôm, răng gãy ba cái, khắc hai chữ Thái Bình và số bảy mốt.
Dũng đọc to từng thứ cho người ghi biên bản. Tôi gật đầu từng thứ. Tới cái lược thì tôi không gật được nữa.
* * *
Người quy tập làm tới hai cánh tay thì dừng lại, gọi Dũng.
Tay phải của Phú duỗi thẳng ra trước, về hướng bắc, hướng hào, bàn tay úp xuống cát, các ngón xoè. Tay của người chống xuống để kéo thân mình đi. Còn tay trái co lên áp vào bụng, chỗ vết thương, như tôi thấy ba mươi mốt năm trước và như tôi thấy suốt một tháng nay. Nhưng tay trái không áp vào bụng bằng lòng bàn tay. Những ngón tay trái nắm chặt một vật, ép vật ấy vào vết thương.
Người quy tập gỡ rất lâu, vì xương ngón tay khép vào vật ấy quá chặt, gỡ mạnh sẽ gãy. Rồi họ nhấc lên cho Dũng xem, và Dũng đưa cho tôi, vì tôi đã đưa tay ra.
Một chiếc dép cao su. Mục hơn chiếc kia nhiều. Cỡ chân lớn hơn. Quai trái đứt, được nối lại bằng một đoạn dây thép xoắn hai vòng, rỉ nâu, nhưng còn nguyên hai vòng.
Dép của tôi.
Chiếc dép văng khỏi chân tôi đêm hai mươi chín tháng Ba năm bảy hai, lúc tôi chạy được nửa đường về hào. Nửa đường. Nghĩa là nó rơi cách gốc dương chừng bốn chục thước về phía bắc. Mà Phú nằm đây, mười hai bước. Chiếc dép không tự đi hai mươi mấy thước ngược về phía gốc dương.
Phú đã bò. Từ gốc dương, bằng hai đầu gối, tay phải chống cát, tay trái giữ bụng. Bò theo hướng tôi chạy. Bò tới chỗ chiếc dép của tôi, nhặt lấy, ép vào vết thương, vì người ta cần một cái gì để ép vào chỗ máu chảy. Trên trảng cát trắng không có gì khác ngoài chiếc dép của thằng bạn vừa bỏ mình chạy.
Rồi bò ngược lại, về hướng gốc dương, về chỗ nó đã nằm lúc tôi hứa, vì tôi hứa sẽ về chỗ đó. Được hơn hai chục thước thì gục. Còn cách chỗ cũ mười hai bước.
Người ta không bò hai chục thước trên cát với bụng vỡ nếu chết ngay. Phú đã sống. Sống đủ lâu để đi tìm một cái gì cầm máu, đủ lâu để quay về chỗ hẹn, đủ lâu để nằm đó chờ tôi về như tôi nói, và biết tôi không về.
Tôi đã viết trong tờ khai: hy sinh tại chỗ, không kịp nói gì.
* * *
Tôi ngồi với chiếc dép trong lòng, và tôi hiểu nốt điều cuối cùng. Điều tôi không dám nghĩ suốt một tháng.
Phú không chỉ bom để cứu đội. Mười sáu cây cờ đỏ, quả đạn phóng lựu, quả mìn lá, quả bom hai trăm rưỡi cân, tất cả nằm trên những băng rà sẽ đi để tới khoảng giữa. Phú đứng ở từng chỗ ấy để đội còn nguyên vẹn mà tới được chỗ Phú nằm. Và Phú đứng ở khoảng giữa suốt ba mươi mốt năm để trâu bò, trẻ con, đội quy tập năm bảy lăm, cả Lâm, không ai dẫm lên mình. Người ta dẫm lên thì cát lún, xương vỡ, và chiếc dép trong tay sẽ không còn ở trong tay.
Phú giữ chỗ nằm của mình nguyên vẹn. Giữ chiếc dép của tôi nguyên vẹn. Ba mươi mốt năm, chờ tôi về đúng chỗ như tôi hứa, để trả lại.
Dũng ngồi xuống cạnh tôi, nói nhỏ, chú có muốn giữ chiếc dép không, theo lý thì di vật đi theo hài cốt, nhưng cái này là của chú.
Tôi nói, không. Của Phú. Phú giữ nó lâu hơn tôi.
Tôi đặt chiếc dép trở lại tấm bạt, cạnh cái lược và cái bi đông. Rồi tôi đứng dậy, bước ra khỏi mái bạt, nhìn khắp trảng Bàu Sen dưới nắng trưa. Cờ đỏ phần phật trên mấy chục cái cọc. Gốc dương cụt đen. Rừng dương rì rào. Cát trắng tới chân trời.
Không có ai đứng ở đâu cả.
Lần đầu tiên trong một tháng, trảng trống trơn. Và tôi thấy sợ hơn tất cả những ngày ông ấy đứng đó.