Chương 2: Mười sáu cây cờ đỏ
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Tuần đầu tiên, tôi chỉ mười sáu chỗ. Mười sáu chỗ đều có bom.
Tôi không gọi là chỉ. Tôi chỉ làm theo cách này: sáng ra trảng, tôi đứng ở đầu băng chờ. Người đàn ông bao giờ cũng đã ở đó trước tôi, đứng trong vùng chưa rà, tay chỉ xuống. Tôi nhớ vị trí bằng mắt, lấy gốc dương cụt và cột điện ngoài đường làm mốc, rồi bảo Quân cho rà chỗ đó trước. Khi băng rà tới nơi thì ông ấy không còn đó. Máy dò kêu. Cờ đỏ cắm.
Đội gọi tôi là thầy. Lâm gọi tôi là thầy Thiện, cười toe. Hạnh thì không cười. Hạnh là người để ý. Một buổi trưa, lúc cả đội ngồi ăn cơm hộp dưới bóng rừng dương, Hạnh hỏi nhỏ:
"Chú nhìn cái gì ngoài đó mà lâu vậy?"
Tôi nói nhìn cát. Hạnh gật, không hỏi thêm, nhưng từ đó mỗi lần tôi đứng ở đầu băng tôi đều thấy Hạnh liếc theo hướng tôi nhìn.
* * *
Càng nhiều ngày, tôi càng nhìn ông ấy kỹ hơn. Tôi chưa bao giờ đến gần quá ba chục thước. Không phải vì không dám. Vì mỗi lần tôi bước về phía ấy, Quân lại gọi giật, vùng chưa rà không ai được vào, kể cả thầy. Tôi đứng xa mà nhìn.
Mũ cối ông ấy cũ, mép mũ sứt một miếng. Áo Tô Châu bạc gần như trắng ở hai vai, vai trái rách một đường dài, vải lật ra. Quần ống rộng, từ đầu gối xuống bết cát, cát bám thành mảng khô, như người vừa bò qua cát ướt rồi để khô trên người. Dép cao su đủ hai chiếc. Tay phải duỗi thẳng xuống, ngón trỏ chỉ. Tay trái áp vào bụng, dưới rốn một chút, nắm chặt cái gì đó sẫm màu mà tôi tưởng là vết máu khô trên áo.
Ông ấy không bao giờ ngẩng đầu. Tôi chưa bao giờ thấy mặt.
Ông ấy không bao giờ đứng cùng chiều gió với tôi. Tôi để ý chuyện này vào ngày thứ tư. Gió trảng Bàu Sen đổi chiều theo buổi, sáng từ biển vào, chiều từ rừng ra. Ông ấy luôn quay lưng về phía tôi đi tới, mặt về hướng gió đến. Mà áo ông ấy không bay. Tóc tôi bay, cờ bay, cát bay. Vạt áo ông ấy đứng im như vẽ.
Và không có dấu chân. Mười sáu lần tôi tới chỗ ông ấy đã đứng. Mười sáu lần cát phẳng. Một lần tôi quỳ xuống nhìn sát, chỉ thấy vết chân chim và một đường rắn bò.
* * *
Có một chuyện khác tôi để ý mà không dám nghĩ cho hết.
Mười sáu chỗ ông ấy chỉ mà tôi báo cho đội đều nằm quanh rìa trảng, trên đường băng rà đang đi tới. Còn khoảng giữa trảng, quanh gốc dương cụt, rộng chừng hai sào, băng rà chưa tới nên tôi chưa báo gì. Nhưng ngày nào tôi cũng thấy ông ấy về đứng ở khoảng giữa ấy ít nhất một lần, lâu hơn mọi chỗ khác, có hôm đứng từ sáng tới trưa. Ở đó ông ấy không chỉ ra xa. Ông ấy chỉ xuống ngay chân mình.
Ngày thứ sáu, tôi làm một việc dại. Lúc đội nghỉ trưa, tôi đi vòng theo dây băng đã rà, tới sát mép khoảng giữa, cách ông ấy chừng mười lăm thước. Gần nhất từ trước tới giờ. Tôi nói, không to:
"Anh ơi."
Ông ấy không động. Tôi bước một bước vào khoảng giữa, chân đạp lên cát chưa rà.
Cánh tay chỉ xuống của ông ấy nhấc lên. Chậm. Rồi xoay, ngón trỏ không chỉ xuống cát trước mũi chân ông ấy nữa mà chỉ thẳng vào chân tôi. Vào chỗ tôi vừa đặt bàn chân.
Tôi rút chân lại. Tai trái ù lên một tiếng dài. Tôi lùi ra khỏi khoảng giữa, lưng ướt đẫm.
Chiều hôm đó tôi bảo Lâm rà chỗ tôi vừa đặt chân. Lâm quét máy. Máy kêu, yếu, ngắt quãng. Dưới lớp cát một gang là một quả mìn lá, vỏ nhựa, nhỏ bằng hộp xi đánh giày, loại máy dò thường bỏ qua vì ít kim loại. Lâm nhìn tôi lâu.
"Chú đứng đó hồi trưa phải không? Cháu thấy."
Tôi nói ừ. Lâm không cười nữa.
* * *
Tối đó tôi về nhà muộn. Lành đã dọn cơm, ngồi chờ. Nhà tôi cách trảng hai cây số đường đất, ban đêm gió từ trảng thổi về mang mùi cát khô và mùi lá dương, mùi mà ba mươi năm nay tôi vẫn không quen được.
Ăn xong, Lành rửa chén, rồi ra ngồi ở bậc thềm cạnh tôi. Lành nói:
"Mấy đêm nay ông ngủ nói mớ."
Tôi hỏi nói gì. Lành im một lúc, nhìn ra đường.
"Ông kêu tên ai đó. Ông kêu Phú ơi, Phú ơi, như gọi người ở xa lắm. Rồi ông nói, tao về liền, tao về liền. Nói ba lần. Rồi ông khóc."
Tôi không trả lời. Tôi nhìn xuống hai bàn tay mình.
Lành hỏi, Phú là ai.
Tôi nói, một thằng bạn lính. Chết năm bảy hai. Rồi tôi đứng dậy đi vào nhà, khoá cửa, vặn đèn nhỏ, nằm xuống giường. Ngoài sân Lành còn ngồi rất lâu. Tôi nghe tiếng dép của bà kéo trên nền gạch, đi vào, rồi dừng ở cửa buồng.
"Ông Thiện. Ông chưa bao giờ nói với tôi ông có bạn chết ở trảng này."
Tôi nằm im. Tôi chưa bao giờ nói với bà là ở trảng này. Tôi chỉ nói năm bảy hai.
Mà bà nói đúng.