☾ Truyện Ma Có Thật
← Trảng cát không dấu chân

Chương 3: Tháng Ba năm bảy hai

Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem

Tôi phải kể chuyện năm bảy hai. Kể tới đâu thì kể, chỗ nào chưa kể được thì tôi sẽ nói là chưa kể được.

Tôi nhập ngũ năm 1971, mười tám tuổi, vào một đại đội công binh của một trung đoàn đứng chân ở bờ bắc Bến Hải. Việc của công binh chúng tôi là mở cửa. Nghĩa là trước khi bộ binh xung phong, chúng tôi bò lên trước, dò mìn bằng thuốn sắt và bằng tay, gỡ hoặc đánh dấu, mở một lối rộng hai thước qua bãi mìn và hàng rào. Mở xong thì nằm lại hai bên cửa cắm cọc trắng cho bộ binh theo.

Phú là người cùng tiểu đội với tôi. Trần Văn Phú, quê Thái Bình, kém tôi vài tháng tuổi, người gầy, răng khểnh, hay hát chèo một mình lúc gác đêm. Phú có cái lược nhôm làm từ xác máy bay, tự khắc hai chữ Thái Bình và số bảy mốt bằng mũi kim. Phú hay chải tóc bằng cái lược đó trước khi đi làm nhiệm vụ, nói để lỡ có sao thì mặt mũi cũng tươm tất.

Tôi hay cười Phú chuyện đó. Phú nói, mày không có gì để nhớ nhà thì mày cười.

Tôi có một thứ. Đôi dép cao su của tôi quai trái đứt từ hồi còn ở Vĩnh Linh, tôi buộc lại bằng một đoạn dây thép xoắn hai vòng, lúc đi kêu lẹt kẹt. Phú ghét tiếng đó. Phú bảo bò vào bãi mìn mà kêu lẹt kẹt thế thì bọn tao chết theo mày. Tôi vẫn đi. Dép đó mẹ tôi mua.

* * *

Đêm hai mươi chín tháng Ba năm 1972, đơn vị tôi được lệnh mở cửa qua trảng cát phía đông một thôn gần đồi Dốc Miếu. Trảng ấy là trảng Bàu Sen. Phía nam trảng là tuyến hàng rào và bãi mìn, sau đó là một chốt. Phía bắc trảng là một con hào cũ của ta đào từ trước, sâu ngang ngực, là chỗ tập kết.

Tiểu đội tôi bò lên lúc một giờ sáng. Trảng không có gì che. Trăng non. Cát trắng tới mức tôi thấy rõ mu bàn tay mình. Chúng tôi bò theo hàng dọc, cách nhau năm thước, tôi đi thứ ba, Phú đi ngay sau tôi. Tới gần gốc dương, hồi đó cây dương còn nguyên ngọn, thì pháo từ Cồn Tiên bắn tới.

Pháo một linh năm. Người công binh nghe tiếng rít là biết sẽ rơi gần hay xa. Loạt đầu rơi xa, phía nam. Loạt thứ hai rơi ngay trảng.

Tôi không nhớ tiếng nổ. Tôi chỉ nhớ cát. Cát ập xuống như có người đổ cả thúng lên lưng, rồi tai trái tôi câm hẳn, chỉ còn một tiếng ù dài, và từ đó tới giờ không bao giờ hết ù.

Khi tôi ngẩng đầu, gốc dương đã cụt. Ngọn cây đổ sang bên. Tiểu đội trưởng ở phía trước không thấy đâu. Hai người đi đầu không thấy đâu. Phía sau tôi, cách chừng bảy tám thước, Phú nằm ngửa dưới gốc dương, hai tay ôm bụng.

Tôi bò lại. Phú còn tỉnh. Mắt mở to, nhìn tôi, miệng há ra thở. Bụng Phú tối đen và ướt, tay Phú giữ ở đó như giữ cái gì sắp rơi ra. Phú nói, tiếng nhỏ lắm, tôi nghe bằng tai phải:

"Thiện. Kéo tao."

Tôi nói để tao về hào kêu người. Tao về liền. Phú nói đừng. Tôi nói tao về liền, tao về liền. Tôi nói ba lần. Rồi loạt pháo thứ ba rít tới.

Tôi chạy.

Tôi không bò nữa. Tôi đứng dậy chạy về phía hào, trên cát trắng, dưới trăng, giữa pháo. Chạy được nửa đường thì quai dép trái tôi, cái quai buộc dây thép, bung ra. Dép văng đi. Tôi không dừng. Tôi nhảy xuống hào với một bàn chân trần, chân trái rách toạc vì vỏ sò, và nằm úp mặt xuống đất hào cho tới khi pháo dứt.

Pháo dứt lúc gần ba giờ. Tôi nằm trong hào tới sáng.

Tôi kể tới đây thôi. Phần sau tôi chưa kể được. Đến giờ tôi vẫn chưa kể được cho ai, kể cả cho chính mình, mỗi lần nghĩ tới chỗ ấy đầu tôi tự quay sang hướng khác như con bò tránh roi.

* * *

Trở lại năm 2003.

Ngày thứ chín, băng số bảy rà tới một chỗ ông ấy chỉ hôm trước, sát mép rừng dương. Máy kêu một tiếng tít khác thường, dài và trầm, Lâm bảo kim loại lớn. Người xử lý moi mãi không tới. Quân cho dừng, gọi về tỉnh.

Chiều, đội xử lý của tỉnh về, đào xuống gần hai thước. Một quả bom phá hai trăm năm mươi cân, loại máy bay thả, nằm nghiêng, lớp sơn ngoài còn thấy vệt vàng. Cả thôn Bàu Sen phải dời đi trong bán kính một cây số. Người ta không dám tháo, quyết định đánh tại chỗ.

Tôi đứng với cả đội ở đầu đường cái, cách hơn cây số, nghe ba hồi còi. Rồi mặt đất dưới chân rung lên trước, tiếng nổ tới sau, đục và nặng, và một cột cát trắng dựng lên cao hơn ngọn dương, đứng đó một lúc lâu mới ngả xuống.

Cát rơi xong, tôi nhìn ra trảng.

Ông ấy vẫn đứng ở khoảng giữa. Đúng chỗ cũ, cạnh gốc dương cụt. Không dịch một bước. Cát vừa phủ lên cả trảng một lớp mới, mà vai ông ấy, mũ ông ấy không có hạt cát nào.

Quân đi tới bên tôi, phấn khởi, vỗ vai tôi đau điếng:

"Xong quả lớn rồi. Tuần sau tụi cháu dọn bãi nghỉ ra giữa trảng, chỗ gốc dương, cho gần. Hôm qua quét sơ rồi, chỗ đó máy im như tờ, sạch nhất trảng. Chú thấy sao?"

Tôi nhìn khoảng giữa. Ông ấy đứng đó, đầu cúi, tay chỉ xuống chính chỗ mình đứng.

Tôi nói với Quân là chỗ đó gió.