☾ Truyện Ma Có Thật
← Trảng cát không dấu chân

Chương 6: Đêm ở gốc dương cụt

Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem

Tôi không về nhà. Tôi đạp xe tới đầu thôn thì rẽ ra trảng. Trời còn sáng, đội đang thu dây. Quân thấy tôi, vẫy tay, nói chuyện kế hoạch: tuần sau đội sẽ rà băng xuyên qua khoảng giữa, từ gốc dương về hướng bắc, vì rìa trảng gần xong rồi. Quân nói tụi cháu đi băng hai mét, máy hai lượt, chắc ăn.

Tôi hỏi, nếu có gì ở sâu hơn tầm máy thì sao.

Quân nói, sâu hơn tầm máy thì không ai đụng tới, để đó, có ai đào đâu mà sợ.

Tôi nghĩ, có. Có một người đã đào. Bằng đầu gối. Từ gốc dương về hướng hào. Mười hai bước.

* * *

Tôi đợi tới khi đội về hết. Tôi ngồi trong rừng dương chờ tối, không hút thuốc, không nghĩ gì, chỉ nghe gió đổi chiều từ biển sang rừng. Khi trời tối hẳn tôi lấy đèn pin trong túi, cái đèn hai pin đại, và một cái xẻng nhỏ của đội tôi mượn hồi chiều không ai để ý.

Tôi đi dọc dây băng tới bãi nghỉ. Mái bạt đập phành phạch. Tôi không bật đèn. Trăng mười bốn đủ sáng để thấy bốn cái cọc tre và sợi dây.

Ông ấy đứng trong đó. Đêm nay không cúi đầu.

Ông ấy đứng thẳng, mặt hướng về tôi. Tôi vẫn không thấy mặt. Có một bóng tối dưới vành mũ cối mà trăng không rọi tới, như mặt ông ấy ở một chỗ sâu hơn cái mũ. Nhưng tôi biết ông ấy đang nhìn tôi. Người ta biết khi bị nhìn.

Tôi đi tới. Tai trái ù lên theo từng bước, và lần này trong tiếng ù có chữ rõ hơn. Không phải tiếng nói. Giống như trí nhớ của một tiếng nói, phát ra từ bên trong tai tôi, bên trong cái tai đã chết năm bảy hai.

"Thiện."

Tôi dừng ở sợi dây.

"Thiện. Kéo tao."

Giọng nhỏ, khản, hụt hơi. Giọng người bị thương ở bụng. Giọng tôi đã nghe một lần duy nhất, ba mươi mốt năm trước, và từ đó nghe lại mỗi đêm tháng Ba trong giấc ngủ mà sáng ra không nhớ.

Tôi nói, rất nhỏ:

"Phú."

Cánh tay chỉ của ông ấy hạ xuống. Lần đầu tiên tôi thấy bàn tay ấy buông thõng. Rồi ông ấy làm một việc chưa từng làm: ông ấy lùi một bước. Ra khỏi chỗ đang đứng. Và ngón tay chỉ xuống chỗ vừa đứng, chỗ Lâm đã ngã, chỗ cát lún như có hang.

Tôi chui qua dây. Tôi quỳ xuống chỗ ấy và đào.

* * *

Tôi đào bằng xẻng nhỏ, rồi bằng tay. Cát trảng Bàu Sen đêm lạnh và ẩm dưới lớp mặt, càng xuống càng ẩm, càng nặng. Tôi đào một hố rộng bằng cái nia, sâu tới khuỷu tay, rồi tới vai. Tay tôi rách vì vỏ sò. Tôi không bật đèn. Tôi sợ bật đèn thì ông ấy không còn đó.

Ông ấy đứng cạnh hố, cách tôi một bước, nhìn xuống. Tiếng ù trong tai trái đều đều. Không còn chữ. Chỉ như tiếng thở.

Sâu hơn một thước, tay tôi chạm phải một thứ không phải cát. Mềm, dai, lạnh. Tôi lôi lên. Dưới trăng là một mảnh vải nhựa, loại tấm tăng lính ngày xưa, mục nát, nhưng còn nguyên màu xanh ở mặt trong. Tấm tăng tiểu đội tôi phát năm bảy mốt, mỗi người một tấm, gấp tư đeo sau lưng. Tôi đặt nó lên miệng hố.

Tôi thọc tay xuống tiếp. Cát ẩm, rồi cát ướt, rồi cát lạnh như nước giếng. Tay tôi vướng một thứ. Không cứng như sắt, không mềm như vải. Tôi không rút ra. Tôi để tay ở đó, trong cát lạnh, và tôi thấy tiếng ù trong tai trái dâng lên, dâng lên, lớn tới mức tôi nghĩ tai phải cũng nghe được.

Rồi trong tiếng ù đó có hai chữ, rõ như người nói sát tai.

"Về liền."

Không phải giọng Phú. Giọng tôi. Giọng tôi mười chín tuổi, hụt hơi, nói dối.

Tôi rút tay ra. Tôi bò ra khỏi hố, đứng dậy, và chạy. Tôi chạy dọc dây băng về hướng bắc, hướng hào cũ, như năm bảy hai, không quay lại, chân đạp cát lạo xạo, và lần này tôi nghe rõ: sau lưng tôi không có tiếng chân nào. Không có ai đuổi theo. Chưa bao giờ có ai đuổi theo. Người ta bò thì không đuổi được ai.

* * *

Hạnh tìm thấy tôi lúc sáu giờ sáng, ngồi ở mép bắc trảng, chỗ con hào cũ đã lấp gần bằng, hai tay vùi trong cát tới khuỷu, máu khô ở các khớp ngón. Hạnh không la. Hạnh ngồi xuống, kéo tay tôi lên, rửa bằng nước trong bi đông, băng lại từng ngón.

"Chú đào cái gì vậy?"

Tôi nói, tôi đánh rơi cái gì đó ở đây hồi xưa.

Hạnh nhìn ra giữa trảng, chỗ cái hố và mảnh tấm tăng mục trên miệng hố, rồi nhìn tôi. Hạnh không hỏi nữa. Hạnh đi lấy xẻng của đội, lấp cái hố lại, cắm lại cọc, chăng lại dây, trước khi xe u-oát chở đội tới. Mảnh tấm tăng Hạnh gấp lại, bỏ vào túi áo bảo hộ.

Quân xuống xe, vui vẻ, không biết gì, nói với cả đội:

"Thứ hai đi băng qua giữa. Bắt đầu từ chỗ bốn cái cọc."