Chương 1: Tiếng điếu sau bếp
Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem
Nhà tôi ở một thôn ven đê biển thuộc huyện Thái Thụy, Thái Bình. Đất mặn, làng sống nhờ ruộng muối, nhờ bãi ngao, nhờ mấy sào lúa được vụ chiêm mất vụ mùa. Con trai trong thôn hễ lớn là đi. Đứa vào Nam làm giày, đứa ra Quảng Ninh đào than, đứa theo người ta sang Lào phụ hồ. Anh Tuấn tôi đi Lào.
Anh đi ra Giêng năm 2001, theo một ông cai người huyện bên gom thợ sang làm đường bên kia biên giới. Hôm đi anh đeo cái ba lô bộ đội cũ của thầy tôi, trong có hai bộ quần áo, đôi ủng, cái bát sắt. U tôi khâu vào cạp quần anh một túi vải con con, đựng nắm gạo với nhúm muối, dặn đi đâu thì nhớ đường về. Anh cười, chìa cái răng cửa sứt ra, bảo u lẩn thẩn.
Cái răng ấy sứt từ năm anh mười bốn. U tôi vẫn tin là anh ngã xe đạp ở dốc đê. Anh em tôi chưa bao giờ nói lại.
Năm ấy anh hai mươi sáu, tôi hai mươi. Thầy tôi mất từ năm chín ba, ho lao mấy năm rồi đi. Nhà còn ba mẹ con, hai gian nhà ngói, một gian bếp lợp rạ, cái ao rau muống và ba ô ruộng muối thuê của hợp tác xã.
* * *
Anh gửi thư về đều, hai tháng một lá, qua bưu điện xã. Thư viết bút bi trên giấy kẻ ô học trò, chữ to, nghiêng, sai chính tả nhiều. Lá nào cũng mở bằng câu "Kính gửi u và thằng Toản". Lá nào cũng kể bên ấy nóng, cơm nhiều ớt, lán lợp tôn, muỗi to như ruồi trâu. Tháng Bảy anh gửi về một triệu hai qua một người cùng lán về phép.
Tháng Chín có lá thư cuối. Lá ấy ngắn, chưa được nửa trang. Mưa nhiều, đường sạt, công trình nghỉ. Anh sắp chuyển sang chỗ khác, chưa biết địa chỉ. Cuối thư có một dòng viết thêm, mực đậm hơn, chữ đè sát lề như viết xong rồi mới quay lại:
"Nếu ai báo tin gì về con thì u đừng tin."
Rồi thôi. Không có lá nào nữa.
U tôi đọc dòng ấy đến mòn cả nếp giấy. U hiểu theo nghĩa của u: có ai bảo anh chết thì đừng tin, anh còn sống. U lên huyện tìm ông cai. Ông cai bảo lán tan từ sau lũ, thợ mỗi người một ngả, ông cũng mất liên lạc. U ra bưu điện xã hỏi, tuần nào cũng hỏi, cho đến khi cô bưu tá thấy u từ đầu ngõ là lắc đầu trước.
Ba năm. Tôi hai mươi ba tuổi, chạy chiếc xe Win cũ chở muối thuê ra cảng cá, tối về phụ u cào ruộng. U năm mươi tám, tóc bạc nửa đầu, chiều nào cũng ngồi ở bậc hiên nhìn ra ngõ. Mâm cơm nhà tôi vẫn ba cái bát. Cái thứ ba úp sấp.
* * *
Tiếng ấy bắt đầu vào tháng Tám năm 2004, đúng mùa gió nồm, ruộng muối được giá.
Đêm ấy tôi nằm gian bên, cửa sổ mở hé cho gió. Nhà im. Ếch ngoài ao kêu đều. Rồi chúng im, cả loạt một lúc, như có ai vừa ném hòn đất xuống mặt nước. Trong cái im ấy tôi nghe từ dưới bếp vọng lên một tiếng rít dài.
Sòng sọc. Sòng sọc. Nước reo trong ống, đều và sâu, kéo dài một hơi. Rồi một tiếng thở ra rất khẽ, phù, như người vừa rít xong ngả đầu vào cột nhả khói.
Tiếng điếu cày. Không lẫn được. Cả thôn tôi đàn ông nhà nào cũng có một cái.
Nhưng nhà tôi không ai hút. Thầy tôi hút, từ hồi tôi chưa đẻ, hút đến khi ho ra máu mới bỏ. Anh Tuấn thì không. Anh thử một lần năm mười bảy tuổi, rít một hơi, say lăn ra bờ ao nôn thốc nôn tháo, từ đấy thấy ai hút là anh tránh.
Tôi bảo mình là nhà bên. Ông Khoát hàng xóm đêm nào cũng hút. Nhưng nhà ông Khoát cách cái ao, gió lại thổi ngược.
Tôi bật đèn pin xuống bếp. Bếp trống. Ba ông đầu rau đen sì, nồi cám lợn úp trên bệ. Không có ai. Nhưng có mùi. Mùi thuốc lào hăng, cay, đặc quánh trong cái gian bếp thấp, đọng sát mái rạ, như vừa có người thở ra cả một lồng ngực khói.
Tôi đứng đến khi mùi tan. Ếch ngoài ao kêu lại. Tôi lên giường, không ngủ được.
* * *
Từ đêm ấy, cách vài hôm lại có. Không đêm nào giống đêm nào về giờ giấc. Có hôm vừa tắt đèn. Có hôm gần sáng, lúc gà chưa gáy. Chỉ có một điều không đổi: bao giờ ếch ngoài ao cũng tắt trước, rồi mới đến tiếng rít.
Tôi không kể với u. Tôi nghĩ u già, nghe kém, ngủ gian ngoài thì không biết. Tôi nhầm.
Một buổi sáng cuối tháng Tám, tôi dậy sớm đi cào muối. Ra đến cửa bếp thì khựng lại.
Cái điếu cày của thầy tôi nằm giữa nền bếp. Mười một năm nay nó vẫn gác trên gác bếp, giữa bó đóm với chồng rổ rá, ống nứa đã nứt dọc một đường dài, nõ điếu bằng đồng xỉn xanh. U tôi giữ nó như giữ cái gì của thầy. Không ai đụng đến.
Giờ nó nằm dưới đất, đầu điếu quay ra cửa. Quanh chân điếu có một vũng nước nhỏ, đen. Tôi ngồi xuống sờ. Ống nứa ướt. Trong nõ điếu có một nhúm bã thuốc mới, còn vàng, chưa cháy hết.
Cái ống nứa nứt ấy không thể giữ nổi một giọt nước. Vậy mà nước điếu trong nó vẫn sóng sánh, đen và hôi như nước điếu người ta hút đã ba ngày không thay.
Tôi nghe tiếng dép sau lưng. U đứng ở hiên, áo cánh nâu, tay cầm cái chổi rơm. U nhìn cái điếu, nhìn tôi. Tôi tưởng u sẽ hoảng. U không hoảng.
"Mấy hôm nay rồi," u nói. "U nghe cả."
Tôi hỏi u có phải thầy về không. Thầy hút điếu ấy, chắc thầy về nhắc gì.
U lắc đầu. U cúi xuống nhặt cái điếu, lấy vạt áo lau ống nứa, chậm, như lau mặt cho ai.
"Không phải thầy mày. Thầy mày rít xong bao giờ cũng ho. Mấy đêm nay, không đêm nào có tiếng ho."