Chương 1: Lầu ba dãy C
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Nhà tôi hồi đó ở trong một con hẻm ở khu Bàn Cờ, quận Ba. Căn nhà ngang ba thước, sâu chừng mười thước, có gác lửng bằng ván ép. Ba tôi chạy xe ôm ở đầu chợ, má tôi bán xôi mặn ở đầu hẻm từ bốn giờ sáng. Tôi có một đứa em gái tám tuổi, con Út, ngủ chung gác với tôi.
Năm 2012 tôi học lớp mười hai, ban A. Nhà nghèo, cả họ chưa ai học đại học. Ba tôi nói đậu Bách Khoa thì ba bán xe cũng lo, rớt thì đi phụ hồ với chú Bảy. Ba nói nhẹ như nói chuyện thời tiết, mà tôi biết ba không giỡn.
Căn nhà ấy không học được. Ti vi nhà bên mở cải lương tới khuya. Dưới hẻm có quán nhậu bày bàn ra tận cửa. Con Út trở mình là cả cái gác rung. Tháng Tư năm đó tôi thi thử, môn Toán được năm điểm rưỡi. Tôi ngồi nhìn tờ giấy điểm ở bậc cửa rất lâu.
* * *
Trường tôi là một trường cấp ba cũ, xây từ thời Pháp, cổng sắt sơn xanh, sân có hai cây còng lớn. Thư viện nằm trên lầu ba dãy C, dãy nhà cũ nhất, tường vàng bong tróc, cầu thang lót đá mài đã mòn lõm ở giữa. Lên tới chiếu nghỉ giữa lầu hai và lầu ba thì cầu thang quẹo gắt, có một cái cửa sổ chấn song nhìn xuống sân sau.
Phòng đọc rộng, sàn gạch bông hoa văn đỏ đen, bốn cây quạt trần quay chậm kêu cót két. Kệ sách bằng gỗ cao gần tới trần, xếp thành hàng dài ra phía sau, phía sau tối hơn phía trước. Mùi trong đó là mùi giấy cũ, mùi băng phiến, mùi gỗ ẩm. Học trò ít ai lên, trừ mấy đứa lớp chuyên trốn nắng giờ ra chơi.
Thủ thư là cô Hạnh, còn trẻ, mới ra trường được vài năm, làm việc tới năm giờ chiều là khóa cửa về. Tôi xin cô cho tôi ở lại học buổi tối. Cô nói cô không có quyền, phải hỏi chú Tư bảo vệ. Chú Tư ở trường từ hồi tôi chưa đẻ, người ốm, đen, lúc nào cũng có điếu thuốc Mèo kẹp sau tai.
Chú Tư nhìn tôi từ đầu tới chân. Tôi kể chuyện nhà, chuyện năm điểm rưỡi. Chú im một lúc rồi nói:
"Mười giờ chú lên khóa cửa. Tắt hết đèn, tắt quạt, đừng đụng đồ trên bàn cô Hạnh. Với lại học ở mấy bàn phía trước thôi, đừng vô sâu phía trong."
Tôi hỏi sao vậy chú. Chú nói phía trong bóng đèn hư, đi vô vấp ngã. Tôi tin.
* * *
Tối đầu tiên là thứ Hai, ngày bảy tháng Năm. Tôi ăn hộp cơm má gói, rồi ngồi ở cái bàn thứ hai gần cửa ra vào, bật một bóng đèn huỳnh quang và một cây quạt trần. Cả phòng tối, chỉ có một vũng sáng trắng chỗ tôi ngồi. Ngoài cửa sổ là tán cây còng, ve kêu một lúc rồi thôi.
Yên tới mức tôi nghe được tiếng mình lật giấy. Tôi làm được hai đề, lần đầu tiên trong năm không ai làm tôi mất nhịp. Tôi nhớ mình đã hơi muốn khóc vì cái yên đó.
Tôi đang làm tới câu cuối đề thứ ba thì cây quạt trần trên đầu quay chậm lại, kêu một tiếng cót két dài. Rồi tôi nghe một tiếng "cộp".
Tiếng gọn, khô, như cái gì nặng đóng xuống mặt gỗ. Nó phát ra từ phía bàn thủ thư, cái bàn gỗ lớn kê ngang ở đầu phòng, cách tôi chừng năm bước. Bàn tối thui. Trên đó chỉ có cái máy vi tính cũ phủ tấm vải và cái hộp đựng phiếu.
Tôi ngồi im. Tôi nghĩ, chuột. Hoặc thằn lằn rớt. Hoặc cửa sổ nào đó bị gió đập.
Một lúc sau, tôi ngửi thấy mùi dầu gió. Loại dầu gió xanh chai nhỏ, mùi bạc hà và long não, cái mùi của mấy bà già ngồi xe buýt. Mùi thoảng qua chỗ tôi ngồi, đậm lên một chút, rồi tan.
Tôi nhìn quanh. Không có ai. Cửa sổ đóng. Quạt trần vẫn quay.
Tối đó tôi về lúc mười giờ kém năm. Lúc tắt đèn, tôi quay lại nhìn bàn thủ thư một lần. Tôi không biết sao mình làm vậy.
* * *
Sáng thứ Ba, giờ ra chơi, tôi lên thư viện mượn cuốn đề thi Toán của Bộ năm 2011. Cô Hạnh tìm trên máy tính, ghi mã, rồi kéo ngăn kéo bàn lấy con dấu ngày tháng ra đóng vào phiếu sau bìa sách.
Con dấu đó bằng đồng, cán gỗ, có mấy cái bánh xe nhỏ để vặn ngày tháng năm. Cô đóng xuống. Tiếng "cộp" vang lên, gọn, khô.
Tôi đứng sững. Cô Hạnh ngẩng lên hỏi sao vậy em. Tôi nói không có gì.
Lúc cô cất con dấu vào lại, tôi thấy trong ngăn kéo có một cuốn sổ lớn, bìa vải xanh đã sờn góc, gáy dán băng keo. Trên bìa có dán tờ giấy ghi "Sổ mượn sách" bằng chữ nắn nót. Cô Hạnh nói đó là sổ cũ, từ hồi chưa có máy tính, giờ không ai dùng nữa.
Tôi xin coi thử. Cô hơi lưỡng lự rồi đưa.
Sổ kẻ cột bằng mực đỏ: họ tên, lớp, tên sách, ngày mượn, ngày trả. Mấy trang đầu chữ đủ kiểu, mực đủ màu, của học trò tự ghi. Càng về sau càng thưa. Rồi tới những trang mà mỗi trang chỉ có một hai dòng, cùng một nét chữ, mực tím, chữ nghiêng nét thanh nét đậm, kiểu chữ của người học từ thời viết bút lá tre.
Tôi lật tới trang có chữ cuối cùng.
Dòng áp chót ghi: "Trịnh Minh Khoa, 12A1". Ngày trả: 20/5/2012. Tôi biết Khoa. Thằng lớp chuyên Toán, hay lên thư viện giờ ra chơi.
Dòng cuối cùng, mực còn tươi như mới ghi tối qua, ghi tên tôi.
"Lâm Quốc Vinh, 12A4." Ngày mượn: 07/5/2012. Ngày trả: 04/7/2012.
Cột tên sách để trống.
Tôi chưa bao giờ ghi gì vào cuốn sổ đó. Và tôi chưa bao giờ viết được nét chữ đẹp như vậy.