Chương 10: Mười ba ngày
Khoảng 5 phút đọc·4lượt xem
Tôi không về Thanh Xuân. Xe khách thả tôi ở bến, tôi bắt xe ôm ra bến khác, lên xe về Hưng Yên ngay trong đêm. Tôi để lại phòng trọ, để lại quần áo, để lại việc. Tôi nghĩ nếu tôi làm đúng như bà Thoa nói, bỏ đi, thì cái gì đang theo tôi sẽ ở lại với cái toà nhà ấy, vì nó thuộc về cái toà nhà ấy.
Nhà tôi ở Ân Thi là nhà ngói ba gian, bố mẹ tôi ở với vợ chồng em gái, sân gạch, giếng khơi, một chuồng lợn và một con chó vàng. Tôi về tới ngõ lúc gần sáng. Mẹ tôi mở cổng, nhìn tôi, hỏi sao gầy thế. Tôi nói con nghỉ việc. Mẹ không hỏi gì thêm, đi nấu cơm.
Tôi ngủ cả ngày. Đêm ấy tôi nằm giường gỗ trong gian buồng của mình ngày xưa, nghe tiếng ếch ngoài ao, tiếng lợn cựa, tiếng gió trong bụi tre. Tôi nghĩ đã xong. Tôi nghĩ sai.
* * *
Quá nửa đêm, ếch ngoài ao đang kêu thì im bặt cùng một lúc, như có ai vừa lội xuống. Rồi trên mái ngói ngay trên đầu tôi, có ba tiếng gõ.
Gõ vào ngói. Tiếng khác tiếng gõ vào tôn, giòn hơn. Tiếng thứ ba rơi trúng một viên ngói đã rạn, bụi đất lả tả rơi xuống mặt màn, có hạt lọt cả vào mắt tôi. Con chó vàng ngoài sân sủa lên hai tiếng rồi rít, rồi im hẳn, cái im của con chó chui vào gầm chuồng lợn.
Mẹ tôi gian ngoài trở mình, hỏi vọng vào, cái gì rơi thế con. Tôi nói mèo. Mẹ tôi ừ.
Sáng ra, trên sân gạch có một hàng dấu ủng ướt, từ cổng vào, thẳng tới bậc hiên trước cửa buồng tôi. Mười một bước. Bố tôi ra sân sớm, đứng nhìn, lấy chân di thử, rồi ngồi xuống bốc một chút lên ngửi. Bố tôi đi phụ hồ hai mươi năm.
"Vữa mới. Ai trộn vữa đêm hôm ở sân nhà mình?"
Tôi nói con không biết. Bố nhìn tôi lâu, rồi xách xô nước dội.
Đêm thứ hai, gõ. Đêm thứ ba, gõ, và có mùi vữa trong bếp, mẹ tôi tưởng nồi cháo lợn khê. Đêm thứ tư, nước giếng khơi múc lên đục như nước vo gạo, để lắng thì dưới đáy xô là một lớp cát xi măng mịn. Em rể tôi bảo mạch nước đổi, mùa này hay thế. Mẹ tôi bắt đầu thắp hương buổi tối, không nói vì sao.
Đêm thứ bảy, con bé con nhà em gái tôi, bốn tuổi, ngủ với bà, tỉnh dậy giữa đêm, ngồi trên giường chỉ tay lên mái, nói với bà:
"Bà ơi, có chú đội mũ ngồi trên kia. Chú hỏi cậu Toàn."
* * *
Tôi dọn ra chòi canh cá ngoài đầm từ đêm thứ tám. Tôi nói với bố mẹ là ra trông cá cho em rể. Cái chòi lợp lá, bốn cột tre, cách nhà hai trăm mét, giữa đồng. Tôi nghĩ nếu nó gõ thì gõ lên mái lá, không ai nghe, không ai thấy, không đứa trẻ nào phải nhìn lên.
Nó gõ lên mái lá. Tiếng bẹp, nhỏ, nhưng vẫn ba tiếng. Và từ đêm ấy, sau ba tiếng gõ, có tiếng thở. Dài, nặng, đầy cát. Ngay trên đầu tôi, cách lớp lá một gang.
Đêm thứ mười, tôi không ngủ. Tôi ngồi ở cửa chòi, nhìn ra đồng tối, chờ. Muỗi đang vo ve quanh tai thì biến đâu hết, gió cũng lặng, mặt đầm phẳng như tấm kính. Ba tiếng gõ. Rồi một giọng, rất nhỏ, khô như gió qua ống, từ trên mái:
"Ca này ai trực?"
Tôi cắn chặt răng. Tôi không trả lời. Tôi đếm từ một tới một trăm.
"Nguyễn Hữu Toàn. Ân Thi."
Nó không cần tôi trả lời. Nó đã có tên tôi rồi.
* * *
Ngày thứ mười ba, buổi chiều, cái điện thoại tôi đã tắt từ hôm ở xe khách, tôi bật lên để gọi cho thằng bạn hỏi về cái xe mượn. Vừa bật, nó đổ chuông. Số ông Thịnh.
Giọng ông mệt hơn tôi nhớ.
"Chú về đi."
Tôi nói tôi không về. Tôi nói tôi bỏ việc, ông cứ coi tôi như Dũng, như ai cũng được.
"Nó gõ ở nhà chú có phải không. Mười ba đêm rồi. Hùng về quê, nó gõ mười ba đêm. Tiến về quê, mười ba đêm. Dũng không về quê, Dũng vào thẳng."
"Chú về, nó không gõ ở nhà chú nữa. Chú ở đấy, đêm mai nó không gõ nữa đâu. Đêm mai nó vào."
Tôi hỏi vào đâu.
Ông Thịnh im lặng một lúc. Rồi ông nói, chậm:
"Ở Ý Yên, năm 2001, nhà Hùng có đứa em trai mười lăm tuổi. Sau mười ba đêm, thằng bé ra ao rửa chân, không lên nữa. Người ta vớt lên, trong miệng nó đầy cát xi măng. Hùng về Tân Hà ngay hôm sau. Tôi không muốn kể chú nghe chuyện này. Tôi phải kể."
Tôi nghĩ tới con bé bốn tuổi chỉ tay lên mái.
Ông Thịnh nói thêm, ở Tân Hà mười ba đêm nay thang chạy loạn, dừng ở tất cả các tầng, cửa mở ra đóng vào tới sáng, dân kêu lên tổ dân phố. Anh Quý không chịu trực đêm, ông ngồi một mình. Ông nói ông không trực nổi nữa.
"Tôi đọc tên chú rồi, Toàn ạ. Tôi không rút lại được."
* * *
Tôi về Thanh Xuân chuyến xe chiều. Tôi không chào bố mẹ, chỉ nhắn em gái là lên tìm việc tiếp. Toà nhà Tân Hà đón tôi lúc chạng vạng, vàng ệch, cũ, mùi dầu mỡ và hương vòng, như cái ngày đầu.
Ông Thịnh ngồi ở bàn bảo vệ. Ông không đứng dậy. Ông chỉ gật đầu, rồi chỉ tay vào phòng kỹ thuật.
Cuốn sổ quyển chín mở sẵn trên bàn. Mười ba đêm tôi vắng, ông Thịnh ghi thay. Chữ vuông, cứng, chữ tôi đã đọc trong quyển một, mười bốn năm già hơn. Mười ba dòng, mỗi đêm một dòng, đều nhau.
"2h13. Thang dừng tầng 13. Toàn chưa về."
Ông viết số mười ba. Ông không kiêng nữa.
Tôi đọc tới dòng thứ mười ba, dòng của đêm nay. Mực còn hơi ướt. Ông đã ghi sẵn từ chiều, trước khi tôi bước vào.
"2h13. Thang dừng tầng 13. Toàn về."