☾ Truyện Ma Có Thật
← Hai giờ mười ba

Chương 9: Người ở Kiến Xương

Khoảng 5 phút đọc·4lượt xem

Tôi xin ông Thịnh nghỉ hai đêm. Ông nhìn tôi, hỏi đi đâu. Tôi nói đi Thái Bình. Ông không cản. Ông chỉ nói, trước khi tôi ra cửa:

"Hùng cũng xuống đấy. Tiến cũng xuống đấy. Dũng cũng xuống đấy. Chú xuống thì hỏi bà ấy xem anh ấy có muốn gì không. Ba đứa kia đều hỏi câu ấy."

Tôi bắt xe khách ở bến Giáp Bát. Xe chạy bốn tiếng, qua phà cũ giờ đã thành cầu, qua những cánh đồng tháng tư nước xăm xắp, mạ non xanh một màu. Kiến Xương là huyện lúa, làng nào cũng giống làng nào, cổng gạch, ao bèo, chó nằm giữa đường. Tôi hỏi thăm theo cái địa chỉ trong tờ danh sách đội cốp pha, hỏi ba lần mới ra.

Nhà bà Hạnh ở cuối xóm, nhà ngói ba gian, sân gạch rêu, một cây bưởi già. Trên hiên có một người đàn bà ngoài sáu mươi đang ngồi nhặt rau. Bà ngẩng lên nhìn tôi từ ngoài cổng, nhìn rất lâu, rồi đứng dậy phủi tay vào quần.

"Lại người ở Hà Nội à. Vào đi."

* * *

Bà tên Thoa. Bà rót nước chè xanh, ngồi xuống cái chõng tre đối diện, không hỏi tôi là ai. Bà nói bà biết. Cứ vài năm lại có một cậu trẻ, người gầy, mắt thâm, từ Hà Nội xuống, ngồi đúng cái chỗ tôi đang ngồi, hỏi đúng những câu tôi sắp hỏi.

Bà kể, không cần tôi hỏi.

Năm 1998 ông Hạnh ba mươi mốt tuổi, con trai lớn mười tuổi, con gái bốn tuổi. Ông đi theo đội cốp pha lên Hà Nội từ đầu năm, tháng nào cũng gửi tiền về qua người cùng làng, kèm một lá thư. Tháng tám, không có tiền, không có thư. Cuối tháng có người của công ty về, đưa một phong bì tiền, một cái mũ cối, một bộ quần áo, nói ông bỏ việc đi đâu không rõ, công ty có trách nhiệm hỗ trợ gia đình.

"Tôi bảo, bỏ việc thì các anh hỗ trợ làm gì. Họ không nói. Đưa tiền xong về. Tôi định lập bàn thờ, bu tôi không cho, bảo nó chưa chết. Hai năm sau bu mất, tôi mới lập."

Bà nói ông Hạnh là người kỹ. Làm cốp pha, ông là người chui xuống dưới sàn chèn cây chống cuối cùng, bao giờ cũng là ông, vì ông không tin ai làm kỹ bằng mình. Ở nhà, ông đi làm đồng về bao giờ cũng rửa cuốc xong mới rửa chân. Ông có một câu cửa miệng, bà bắt chước giọng ông, giọng đàn ông Thái Bình trầm và chắc:

"Chưa bàn giao thì chưa về."

Bà cười một cái, rất ngắn, rồi thôi.

* * *

Tôi hỏi bà câu ông Thịnh dặn. Anh ấy có muốn gì không.

Bà Thoa nhìn tôi. Bà nói mấy cậu trước cũng hỏi thế, và bà cũng chỉ có một câu trả lời.

"Nhà tôi thì muốn gì của ai. Ông ấy chỉ muốn cho xong cái việc của ông ấy. Nhận ca rồi, chưa ai nhận lại, thì chưa về. Tính ông ấy tôi biết."

Tôi hỏi về những người trước. Hùng, Tiến, Dũng. Bà nhớ cả ba. Hùng xuống năm 2005, nói ít, ngồi cả buổi chiều rồi về. Tiến năm 2009, mang theo hoa quả thắp hương, khóc. Dũng mới năm ngoái, mùa đông, ngồi ngoài hiên hút thuốc, hỏi bà có ảnh ông Hạnh không, bà cho xem, cậu ấy nhìn rồi nói "giống trong vở tôi vẽ".

"Ba cậu ấy sau đó không ai xuống lại. Tôi hỏi thăm người làng đi làm trên ấy. Không ai biết. Cậu là người thứ tư."

Tôi hỏi bà có giữ thư của ông không.

Bà vào buồng, mang ra một cái hộp gỗ nhỏ, bên trong là một tập thư gấp tư, giấy ố vàng, mực xanh đã ngả nâu. Tôi mở một lá. Chữ ngả hẳn về bên phải như bị gió xô. Cuối mỗi dòng, nét bút quặp xuống, móc vào dòng dưới, có chỗ mạnh tay đến rách cả giấy.

Tôi lấy từ túi áo tờ giấy tôi viết thử đêm hôm kia, sau dòng chữ trong sổ, viết đi viết lại tên mình kín cả trang, đặt cạnh lá thư. Hai nét chữ. Một của người chết mười bốn năm. Một của tôi, viết ba đêm trước.

Bà Thoa nhìn hai tờ giấy, rồi nhìn tôi, rất lâu. Bà không hỏi. Bà lấy lại lá thư, gấp vào hộp, rồi bà đứng dậy, đi vào gian giữa, thắp một nén hương lên bàn thờ. Trên bàn thờ là một tấm ảnh người đàn ông gầy, đội mũ cối, cười hở răng, tấm ảnh phóng ra từ bức ảnh tập thể của ông Lộc. Cạnh ảnh có một cái bát hương và một bát hương nhỏ hơn, mới hơn, chưa có ảnh.

Tôi hỏi cái bát hương thứ hai của ai.

"Thằng Dũng. Nó có dặn gì đâu. Tôi đoán thế. Không chắc. Mà từ tết tôi cứ thắp."

* * *

Tôi ra bến xe lúc chiều muộn. Bà Thoa tiễn tới cổng. Lúc tôi chào, bà nắm cổ tay tôi, bàn tay nông dân ram ráp và ấm, nói nhỏ:

"Cậu đừng xuống đây nữa. Ba cậu kia đều xuống đây một lần rồi về trên ấy. Tôi nghĩ xuống đây là xong một việc gì đó. Cậu còn trẻ. Cậu bỏ đi đâu đi."

Tôi lên xe. Xe chạy qua đồng, trời tối dần. Tôi ngủ gật, rồi tỉnh dậy vì cái điện thoại trong túi rung.

Xe đã về tới cửa ngõ Hà Nội, đèn đường vàng vọt lướt qua kính. Cửa gió điều hoà trên đầu tôi phả xuống một luồng lạnh, mang theo mùi vữa ướt. Màn hình không hiện số.

Tôi không nghe. Tôi tắt máy.

Nhưng khi tôi tắt máy, trên nóc xe khách, ngay trên đầu tôi, có ba tiếng gõ. Lần này tiếng thứ ba không chờ. Nó dồn tới ngay sau tiếng thứ hai, mạnh đến mức tấm ốp trần bật một con vít, rơi lăn lóc xuống lòng tôi.

Người phụ xe đang ngủ gật ở cửa ngẩng lên, nhìn lên nóc xe, rồi nhìn tôi.