Chương 3: Bà Lộc tầng mười hai
Khoảng 5 phút đọc·4lượt xem
Tôi không về phòng trọ sáng hôm ấy. Tôi ngồi ở quán trà đá gốc xà cừ tới tám giờ, uống ba cốc, hút hết nửa bao thuốc, nhìn người ta ra vào. Bà Hoa bán bún thấy tôi ngồi lâu, hỏi sao không về ngủ. Tôi nói mất ngủ. Bà nói trực đêm cái nhà này ai cũng mất ngủ, Dũng ngày trước cũng hay ngồi đây tới trưa.
Tôi hỏi anh Dũng giờ đi đâu. Bà Hoa nhún vai, nói nghe ông Thịnh bảo nó bỏ việc, về quê, không lấy nốt lương. Bà nói thêm, giọng thấp xuống:
"Thằng Dũng nó hiền, có tiền thừa không lấy mới lạ. Thôi, chú uống nước đi."
* * *
Người tôi hỏi tiếp là bà Lộc. Anh Quý bảo tôi, nếu muốn biết chuyện cũ của toà nhà thì hỏi bà Lộc tầng mười hai, bà ở đây từ ngày đầu, chồng bà ngày xưa làm thầu phụ cho công trình. Anh nói xong thì thêm:
"Mà chú hỏi làm gì. Trực thì trực thôi."
Bà Lộc ngoài bảy mươi, nhỏ người, tóc búi, mặc áo cánh nâu, nhà ở phòng cuối hành lang tầng mười hai, ngay cạnh cửa cầu thang bộ. Bà mở cửa khi tôi đến giữa buổi chiều, xem cái thẻ kỹ thuật tôi đeo trước ngực rồi mới cho vào. Nhà bà sạch, bàn thờ to, ảnh ông chồng đội mũ cối, cười. Bà rót nước vối, ngồi đối diện tôi, hai tay để lên gối.
Tôi nói tôi mới vào trực đêm, hỏi bà về cái thang máy. Bà nghe tôi kể xong, không ngạc nhiên. Bà hỏi:
"Chú tên gì?"
Tôi nói Toàn. Bà hỏi tên đầy đủ. Tôi nói. Bà gật đầu rất chậm, nói "Toàn à. Ừ." rồi nhìn ra cửa sổ một lúc như nhớ lại cái gì, rồi mới kể.
Năm 1998 toà nhà đang xây tới tầng trên cùng, phần dưới đã hoàn thiện, nhà thầu gấp bàn giao vì chậm tiến độ. Chồng bà, ông Lộc, nhận khoán phần cốp pha từ tầng mười trở lên. Thợ của ông là người Thái Bình, Nam Định, lên theo từng đợt, ăn ở ngay trong công trường, tối ngủ trên những tầng chưa lắp cửa.
"Đêm đổ sàn tầng mười ba, đổ đêm vì xe bê tông vào thành phố chỉ được chạy đêm. Sáng ra thiếu một người. Thợ cốp pha, tên Hạnh. Quê Kiến Xương."
Bà kể người ta tìm quanh công trường, tìm ở các quán nước, gọi về quê. Không thấy. Đội trưởng bảo chắc nó bỏ về, thợ bỏ việc là chuyện thường. Ông Lộc không tin. Ông bảo tối hôm trước ông còn thấy Hạnh chui vào trong khoang cốp pha dưới sàn để chèn lại mấy cây chống, ông dặn nó làm xong thì ra ngay.
"Ông nhà tôi đòi đục sàn. Bê tông mới một đêm, đục được chứ. Thế mà bên thầu nó không cho, đục thì chậm cả tháng, phạt, rồi bảo không có bằng chứng. Gọi về quê, đưa nhà nó ít tiền. Xây bít cái tầng ấy, gọi là tầng kỹ thuật. Thế đấy."
Tôi hỏi, sao bà biết là nó ở trong đó.
Bà Lộc nhìn tôi.
"Vì chú nghe thấy nó gõ chứ sao. Ai trực đêm ở đây cũng nghe thấy."
* * *
Bà Lộc kể tiếp, chậm, như kể chuyện nhà mình.
Ông Lộc sau vụ đó bỏ nghề thầu. Ông mua một căn ở tầng mười hai, ngay dưới chỗ ấy, bà hỏi tại sao thì ông nói ông muốn ở gần nó. Mỗi đêm, hai giờ hơn, ông dậy, ra ngồi ở cầu thang bộ, chỗ chiếu nghỉ có bức tường. Ông ngồi tới sáng. Ông làm thế mười một năm, tới khi mất.
"Ông ấy bảo thằng Hạnh nó không oán ai. Nó chỉ muốn có người trực với nó. Nó là đứa cẩn thận lắm, ca của nó chưa có người nhận thì nó không về."
Tôi uống nước vối, thấy đắng ở cổ. Tôi hỏi những người trực đêm trước tôi. Bà Lộc đếm trên ngón tay.
Hùng, năm 2001, thằng bé người Ý Yên, hiền. Tiến, năm 2005. Dũng, năm 2009. Giữa họ có vài người khác làm vài tháng rồi bỏ, bà không nhớ tên. Chỉ ba đứa ấy làm lâu.
"Chúng nó đều hay lên ngồi uống nước với tôi như chú. Đều hỏi như chú. Rồi đều đi."
Tôi hỏi đi là đi đâu. Bà không trả lời. Bà đứng dậy, lấy trên bàn thờ xuống một cái hộp sắt đựng bánh, mở ra, lấy một tấm ảnh đen trắng đưa tôi. Ảnh chụp một tốp thợ đứng trên sàn bê tông, phía sau là trời và cốp pha. Bà chỉ một người đứng rìa trái, thấp, gầy, đội mũ cối, cười hở răng.
"Hạnh đấy. Ông nhà tôi giữ."
Tôi nhìn khuôn mặt ấy lâu. Người đàn ông trong ảnh trạc tuổi tôi.
Lúc tôi về, bà Lộc tiễn ra cửa. Bà nói, giọng như dặn:
"Chú đừng có gõ lại nó. Dũng gõ lại. Gõ lại là nó biết có người."
Tôi không nói với bà là tôi đã gõ.
* * *
Đêm ấy tôi không đứng ở sảnh. Tôi ngồi trong phòng kỹ thuật, bật hết đèn, mở đài của bác Vượng mượn để tiếng người lấp chỗ trống.
Đang giữa bản tin đêm, cái đài tự nhiên rè đi, mất sóng, vặn kim thế nào cũng chỉ còn tiếng xè xè như cát đổ. Rồi thang chạy. Tôi nghe tiếng mô tơ, tiếng cáp, tiếng tách tách của bảng số qua tường. Rồi tiếng cửa mở trên cao.
Ba tiếng gõ.
Rồi, lần đầu tiên, có tiếng thứ tư. Không phải gõ. Tiếng cào. Dài, chậm, như móng tay hay cái gì bằng sắt kéo dọc theo tấm tôn nóc buồng thang, từ đầu này sang đầu kia.
Cửa đóng. Thang xuống. Tôi đứng dậy ra sảnh, vì tôi không chịu được ngồi trong kia mà không biết.
Cửa thang mở. Bác Vượng đã đứng ở đó trước tôi, tay cầm đèn pin, soi vào trong buồng thang.
Trên tấm cao su đen có một dấu ủng. Một dấu, in rõ gót và rãnh đế, bằng vữa xi măng xám ướt. Mũi ủng quay ra phía cửa. Quay về phía chúng tôi.
Bác Vượng tắt đèn pin. Bác nói, không nhìn tôi:
"Nó đi xuống rồi đấy. Từ giờ đừng gõ nữa."