☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng dép trên tầng ba

Chương 7: Đêm ngoài hành lang

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Tôi quyết định không nằm trong phòng nữa.

Tôi nghĩ suốt một ngày trên giảng đường, thầy giảng kết cấu bê tông cốt thép mà tôi không chép được chữ nào. Luật nói đừng mở cửa. Thịnh mở, Lâm mở, Tuấn mở, và họ đi lên tầng ba. Nhưng nếu tôi không ở trong phòng thì không có cửa nào để mở cả. Tôi sẽ ngồi ngoài hành lang trước mười một giờ, nhìn tận mắt cái thứ đi lên cầu thang. Nhìn thấy rồi thì mới biết đường mà tránh.

Bây giờ nghĩ lại, tôi không biết ý nghĩ đó là của tôi hay không.

* * *

Mười giờ bốn mươi lăm, tôi ra hành lang. Tôi mặc áo khoác, mang đôi dép xanh, cầm cây đèn pin sạc mua ở chợ Thủ Đức. Tôi ngồi bệt xuống nền gạch, lưng dựa vào lan can sắt, đối diện cửa phòng sáu. Bên tay trái tôi là ba bậc chờ, tấm tôn kẽm mờ mờ dưới ánh đèn hành lang. Bên tay phải là hành lang dài, cửa phòng năm khoá im, phòng bảy, phòng tám tối om vì không ai thuê.

Đêm đó trời không trăng. Đèn đường trong hẻm hư từ tuần trước. Ngoài ánh bóng đèn tròn treo ở đầu hành lang, xung quanh dãy trọ là một màu đen đặc, chỉ có đốm đỏ nhấp nháy của cột ăng ten khu chế xuất ở đằng xa.

Tôi nhìn bàn thờ ở chiếu nghỉ. Ba cây nhang cô Hạnh thắp lúc chiều đã tàn, chỉ còn chân nhang đỏ. Cái nón bảo hộ vàng nứt nằm đó, cái bay cán gỗ nằm cạnh.

Mười giờ năm mươi tám.

Tôi nhìn lại bàn thờ. Cái nón bảo hộ không còn. Cái bay cũng không còn.

Tôi bật đèn pin, rọi lên bàn thờ. Chỉ có lon sữa cắm chân nhang, ly nước, dĩa chuối. Chỗ cái nón nằm có một vòng tròn sạch bụi, rõ ràng.

Bãi cỏ sau dãy im phắc. Không một con dế.

* * *

Lệt. Xệt.

Tiếng dép vang lên ở chân cầu thang tầng một. Tôi rọi đèn xuống. Ánh đèn pin vàng vọt chiếu lên mười bốn bậc thang xi măng. Không có ai.

Lệt. Xệt. Bậc thứ nhất. Bậc thứ hai.

Tôi giữ đèn pin bằng cả hai tay cho khỏi run. Tới bậc thứ năm thì tôi thấy.

Đầu tiên là cái nón bảo hộ vàng, nhô lên từ dưới cầu thang, đường nứt chạy từ chóp xuống vành. Rồi một khuôn mặt dưới cái nón. Rồi đôi vai, cái áo ba lỗ trắng đã ngả màu vàng đất, hai cánh tay gân guốc, một tay cầm cái bay cán gỗ.

Ông Lực thấp, đậm, đen sạm. Mặt ông phủ một lớp bụi xi măng xám, dày tới mức không còn thấy lỗ chân lông, như một lớp vữa trát chưa khô. Mắt ông mở. Lòng trắng đục như nước vôi.

Ông bước lên, một chân mang dép lê nhựa rộng, chân kia để trần. Cái chân trần ấy gập sai chỗ ở cổ chân, bàn chân xoay ngang, kéo lê trên bậc thang. Mỗi bước là một tiếng lệt của dép, rồi một tiếng xệt của chân trần cạ vào xi măng.

Lệt. Xệt. Bây giờ tôi mới hiểu tiếng dép ấy.

* * *

Ông lên tới chiếu nghỉ tầng hai, dừng trước bàn thờ một nhịp, như mọi đêm. Rồi ông rẽ ra hành lang. Ông không nhìn tôi. Mấy phòng dưới tầng một chắc ông đã đi qua rồi. Giờ ông đi về phía phòng năm.

Ông đứng trước cửa phòng năm, giơ cái bay lên, gõ cán gỗ vào cánh cửa.

Cộc.

Ông nghiêng đầu, áp tai vào cửa. Nghe.

Cộc. Áp tai. Cộc. Áp tai.

Đúng như cô Hạnh kể. Ông gõ tường. Gõ để nghe trong đó đặc hay rỗng. Phòng năm không còn ai. Ông đứng nghe một lúc, rồi lắc đầu rất chậm, đi tiếp.

Ông dừng trước phòng sáu. Phòng của tôi. Cửa đóng, đèn trong phòng tắt, không có ai trong đó. Tôi ngồi ngay sau lưng ông, cách chừng hai bước chân. Tôi ngửi thấy mùi của ông, mùi xi măng ướt, mùi mồ hôi, mùi đất sét sau mưa.

Ông gõ ba cái lên cửa phòng sáu. Áp tai nghe. Rồi ông thẳng lưng lên, quay lại.

Ông nhìn tôi.

* * *

Tôi không chạy. Tôi muốn chạy mà chân tôi không có ở đó. Tôi chỉ ngồi, đèn pin trong tay rọi thẳng vào ngực ông, và ánh đèn đi xuyên qua cái áo ba lỗ như rọi vào bụi.

Ông thò tay vào túi quần, lấy ra một sợi dây gai, đầu dây buộc một quả dọi bằng sắt hình chóp, loại thợ hồ dùng để canh tường cho thẳng. Ông cầm đầu dây, giơ lên ngay trên đỉnh đầu tôi. Quả dọi buông xuống, lắc qua lắc lại trước mặt tôi.

Lắc. Chậm dần. Đứng yên.

Đầu quả dọi chạm vào giữa ngực tôi, ngay xương ức.

Ông nhìn sợi dây rất lâu, như nhìn một bức tường xem có nghiêng không. Rồi ông cúi xuống, giơ cái bay, gõ cán gỗ lên ngực tôi. Một cái. Áp tai vào ngực tôi. Lạnh như một tảng bê tông. Một cái nữa. Cái thứ ba.

Ông đứng dậy, gật đầu. Môi ông động đậy, bụi xi măng rơi lả tả xuống cằm.

"Đặc."

Ông quay lưng, đi về phía ba bậc chờ. Lệt, xệt. Bậc thứ nhất. Bậc thứ hai. Bậc thứ ba. Rồi ông bước lên không khí, như cái cầu thang vẫn còn đó, và người ông lọt qua tấm tôn kẽm như qua một tấm màn.

Tôi nghe tiếng ông trên sàn tầng ba. Rồi tôi nghe một tiếng dép khác.

Tiếng dép đứt quai, một bên kéo lê. Nó vang lên ở ngay chỗ tôi ngồi. Tôi cúi xuống nhìn chân mình trong ánh đèn pin. Rồi đèn pin tắt.

* * *

Tôi tỉnh dậy trên giường sắt. Trời đã sáng. Cửa phòng chốt trong, chốt trên chốt dưới đều gài. Cây đèn pin nằm trên bàn học, công tắc gạt về nấc tắt, cạnh cuốn giáo trình mở dở.

Hai bàn chân tôi trắng xoá bụi xi măng tới mắt cá.

Tôi mở cửa. Ngoài chiếu nghỉ, cái nón bảo hộ vàng đã nằm lại trên bàn thờ, cái bay nằm cạnh. Nhưng cái nón không còn quay ra ba bậc chờ như mọi ngày.

Nó quay về phía cửa phòng sáu.