Chương 6: Người vắng mặt đêm ấy
Khoảng 4 phút đọc·10lượt xem
Dòng đầu bài trên bảng 5A mờ đi trước giờ ra chơi, như mọi lần. Nhưng lần này cô Lan không để yên. Cô họp hội đồng ngay buổi trưa, mặt căng, nói ngắn. Trường sẽ mời sư thầy chùa làng làm lễ vào chủ nhật tuần này. Từ nay không ai trực đêm ở dãy B, không ai mang gì lạ vào trường. Nói đến đó cô nhìn tôi.
"Thầy Hoàng, cuốn sách thầy ôm sáng nay, thầy mang về nhà."
Tôi mang về. Tôi để nó trên bàn trong gian nhà ngang, cạnh phích nước, và cứ mỗi lần đi qua lại nhìn nó như nhìn một người khách ngồi chờ.
* * *
Tối ấy bác Tích đến nhà trọ tôi. Chưa bao giờ bác đến. Bác đứng ở ngoài sân, không vào, tay cầm một chai rượu trắng còn nguyên nút lá chuối. Tôi mời, bác ngồi xuống bậc hiên, không uống, đặt chai rượu bên cạnh như đặt một cái cớ.
Bác nói, không mở đầu, không nhìn tôi.
"Năm bảy hai tôi học lớp 5A."
Tôi không nói gì. Bác kể tiếp. Bác mười một tuổi, ngồi bàn cuối bên trái, cạnh thằng Cải. Đêm hai mươi mốt bác sốt, mẹ bác giữ ở nhà, bác khóc đòi đi vì cô dặn tối nay thuộc bài mười tám tại lớp. Mẹ bác trói chân bác vào cột giường bằng cái khăn vuông. Nhà bác ở xóm Bãi, cách trường một thửa ruộng. Nằm nhà, bác nghe cả lớp đọc vọng sang.
"Đọc đến câu máy bay qua trên mái thì còi ở ga hú. Tôi còn nghe cô hô xuống hầm. Rồi đất rung. Rồi tôi không nhớ gì nữa. Người ta bảo tôi ngất."
Ba ngày đào, bác đứng ngoài hàng rào tre, không ai cho vào. Ngày thứ ba, lúc người ta đã quyết định lấp, một ông bộ đội công binh đưa cho bác một cái mũ rơm nhặt được ở miệng hầm, có khâu cái tên bằng chỉ đỏ ở vành. Cải.
"Tôi giữ đến giờ. Cái mũ ấy."
Bác im một lúc. Ngoài ngõ có tiếng xe đạp lọc cọc đi qua rồi xa dần.
"Hai mươi ba đứa chúng nó vào lớp đủ. Chỉ có tôi vắng. Ba mươi mốt năm nay, đêm nào chúng nó đọc tôi cũng nghe. Năm chín tám xây trường, tôi xin làm bảo vệ. Người ta không ai nhận, tôi nhận ngay. Để đêm nào tôi cũng ở đây. Để chúng nó biết tôi không bỏ đi đâu."
Tôi hỏi, giọng khô, về cô giáo. Bác Tích gật, như biết tôi sẽ hỏi.
"Cô hiền. Nói giọng bên kia sông, mềm hơn giọng làng tôi. Cô ở nhờ nhà ông từ đình, cuối tuần mới về bên ấy thăm con. Con trai, hai tuổi, gửi bà ngoại. Cô hay lấy ảnh ra khoe với lớp. Cô bảo thằng này sau lớn cho đi dạy học như mẹ."
Tay tôi để trên đầu gối, không cử động được.
Tôi hỏi cô tên gì. Bác Tích lắc đầu.
"Người làng không gọi tên cô nữa. Không ai gọi tên hai mươi tư người ấy. Gọi thì sợ họ nghe thấy, tưởng được gọi về."
Bác đứng dậy, để chai rượu lại trên hiên.
"Tối nay thầy đừng ra trường. Tôi trực một mình. Tôi muốn vào lớp một lần. Ngồi vào chỗ của tôi."
Tôi bảo không được, bác đừng. Bác Tích nhìn tôi, lần đầu tiên trong buổi tối ấy nhìn thẳng, và trong mắt bác không có gì để tôi can được.
"Ba mươi mốt năm tôi đứng ngoài cửa rồi, thầy."
* * *
Tôi không ngủ. Tôi nằm trên giường, đèn tắt, nghe gió ngoài sân. Gian nhà ngang của bà Tư cách trường chừng ba trăm thước, qua một cái ao và hai vườn chuối. Trước đó tôi chưa bao giờ nghe gì từ trường vọng về đây.
Mười hai giờ kém mười lăm, tôi nghe.
Rất nhỏ, đứt quãng theo gió, nhưng đúng nhịp ấy. Năm chữ, nghỉ. Tôi ngồi bật dậy, ra sân, đứng giữa sân mà nghe. Tiếng đọc đi qua chín câu. Qua câu thứ mười. Rồi ngừng, như đêm trước.
Và trong cái ngừng ấy, tôi nghe một giọng lẻ, khàn, giọng người lớn, đọc lại câu thứ mười một mình. Chậm, vấp, như một đứa trẻ bị gọi đứng lên đọc trước lớp sau nhiều năm không học bài.
Bài vẫn học cho xong.
Rồi im hẳn. Gió đổi chiều, không mang gì sang nữa.
Tôi mặc áo, dắt xe ra ngõ, rồi đứng đó. Bác Tích đã bảo đừng ra. Tôi không ra. Tôi ngồi ở bậc cửa cho đến sáng, và đó là điều tôi không tha thứ cho mình được.
* * *
Sáu giờ rưỡi sáng tôi có mặt ở cổng trường. Phòng bảo vệ mở toang, giường không, bếp dầu nguội. Tôi chạy sang dãy B.
Cửa lớp 5A không khoá. Chìa còn cắm ở ổ. Bên trong, ánh sáng sớm xiên qua cửa sổ đọng hơi nước, đổ lên dãy bàn những vệt xám. Bác Tích ngồi ở bàn cuối bên trái, chỗ sát tường. Bác gục đầu xuống hai cánh tay khoanh trên bàn, kiểu học sinh ngủ gật cuối buổi. Áo bông còn cài kín.
Tôi gọi, chạm vào vai bác. Vai lạnh và cứng.
Trên mặt bàn, cạnh khuỷu tay bác, có một cái mũ rơm cũ, nan đã ngả màu đất, đặt ngay ngắn như người ta đặt mũ xuống trước khi vào học. Ở vành mũ có một vệt chỉ đỏ đã bạc.
Tôi ngẩng lên nhìn bảng.
Góc phải, hai dòng, nét chữ ấy, số bốn kín đầu.
Sĩ số: 24
Vắng: 0