☾ Truyện Ma Có Thật
← Góc bảng lớp Năm A

Chương 9: Bài mười chín

Khoảng 5 phút đọc·10lượt xem

Chiều chủ nhật tôi ra chợ Yên Khê mua một cây đèn dầu Hoa Kỳ, chai dầu hoả, hộp diêm. Bà bán hàng hỏi mua làm gì, nhà mất điện à. Tôi bảo để học bài. Bà cười, bảo thầy giáo mà còn học bài.

Tối, tôi tắm, mặc cái áo sơ mi trắng sạch nhất, cài hết cúc. Tôi không biết vì sao mình làm thế. Có lẽ vì ngày xưa đi học, bà ngoại bắt thế.

Mười một giờ tôi mở cổng trường bằng chìa của cô Lan. Sân sương. Gốc bàng còn mùi khói vàng mã. Tôi đi dọc dãy B, mở cửa 5A, bước vào, khép cửa.

Tôi không bật đèn ống. Tôi thắp đèn dầu, vặn nhỏ, đặt lên bàn. Ánh đèn vàng, run, hắt lên bảng một vệt sáng méo. Trong vệt sáng ấy, góc phải bảng, hai dòng phấn vẫn còn, chưa mờ, dù đã qua một ngày. Sĩ số hai mươi lăm. Vắng một.

Tôi ngồi vào bàn thứ hai từ dưới lên, chỗ đêm qua. Mở sách trang ba mươi sáu. Đặt hai tay lên bàn. Rồi tôi nhận ra hai tay tôi đang khoanh lại, tay nọ đè lên tay kia, kiểu học sinh ngồi ngay ngắn chờ cô vào lớp. Tôi không gỡ ra.

* * *

Mười hai giờ kém mười lăm. Lạnh bốc lên từ nền gạch. Mùi dầu hoả của cây đèn tôi mang theo hoà vào mùi dầu hoả vốn có trong phòng, không phân biệt được nữa. Tiếng giấy lật.

Rồi giọng đọc mẫu. Lần này không có lớp vải nào. Rõ từng chữ, từ phía bảng, thấp, chậm, có cái âm cuối hơi kéo của người bên kia sông Đuống.

"Đêm nay em đi học."

Tôi không nhớ giọng ấy. Hai tuổi thì không ai nhớ. Nhưng cái gì đó trong người tôi nhớ. Lưng tôi tự thẳng lên. Cằm tôi tự hạ xuống. Và tôi đọc theo cả lớp, không khàn, không lạc, đúng nhịp từ chữ đầu tiên.

Đêm nay em đi học. Mũ rơm đội trên đầu. Đèn dầu che nửa bóng. Đường làng không thấy nhau.

Lớp học đào xuống đất. Bảng treo cạnh cửa hầm. Cô đọc, chúng em đọc. Tiếng nhỏ như tiếng tằm.

Máy bay qua trên mái. Bài vẫn học cho xong.

Giọng đọc mẫu đọc câu thứ mười một. Tôi nghe, và tôi đọc theo. Mai lớn lên xây lại. Giọng tôi không vỡ. Tôi đã khóc hết từ hôm qua, ở gốc chuối sau trường, và từ sáng nay, dưới gốc bàng. Tôi đọc tròn năm chữ.

Cả lớp đọc theo tôi. Lần đầu tiên tôi nghe thấy hai mươi tư giọng trẻ con đọc câu ấy, và trong đó có một giọng khàn, lớn tuổi, đọc chậm hơn một nhịp, cố theo cho kịp.

Giọng đọc mẫu đọc câu cuối.

"Trường mới giữa đồng không."

Chúng tôi đọc. Hết bài.

Không ai ngừng giữa chừng. Không có cái hẫng. Chỉ có mười hai câu đi hết đường của nó, rồi lặng.

* * *

Trong cái lặng ấy tôi nghe giọng cô nói, không phải đọc mẫu nữa, mà nói, như nói với một lớp học thật.

"Cả lớp thuộc rồi. Mai cô dạy bài mười chín."

Tiếng sách gấp. Hai mươi mấy tiếng, không đều, cái trước cái sau, như trẻ con gấp sách cuối buổi. Rồi tiếng ghế, nhẹ, rất nhẹ, như không có trọng lượng gì đè lên.

Có cái gì chạm vào cổ áo tôi. Lạnh, mỏng, như một ngón tay ướt sương. Nó vuốt cái cổ áo tôi cho thẳng, bên trái, rồi bên phải. Rồi một bàn tay đặt lên đầu tôi, đúng chỗ xoáy tóc, đặt nhẹ như một chiếc lá bàng rơi xuống, và ở lại đó bằng một hơi thở.

Tôi không quay lại. Tôi ngồi khoanh tay, nhìn thẳng lên bảng, như trò ngoan.

Bàn tay rời đi. Cái lạnh dưới nền gạch rút xuống. Mùi đất mới đào tan. Chỉ còn mùi dầu hoả của cây đèn tôi mang theo, và tiếng tàu hàng rít dài qua ga Yên Viên.

* * *

Tôi ngồi đến sáng. Đèn dầu cạn lúc gần năm giờ, tự tắt. Trời tang tảng, tôi ngẩng lên nhìn bảng.

Sĩ số: 25

Vắng: 0

Tôi không xoá. Tôi về phòng hội đồng, pha chè, chờ trống vào lớp.

* * *

Đó là chuyện của hai mươi năm trước. Tôi vẫn dạy ở Yên Khê. Cô Lan về hưu, người ta đưa tôi lên làm hiệu phó rồi hiệu trưởng, nhưng tôi vẫn chủ nhiệm lớp 5A, năm nào cũng thế, phòng giáo dục có hỏi thì tôi bảo quen tay. Tôi không lấy vợ. Người ta nói tôi khó tính, tôi để người ta nói.

Dãy B được xây lên hai tầng năm 2015. Tôi xin giữ lại phòng cuối tầng một, không sửa, không lát lại nền. Cây bàng vẫn đứng, u sẹo lên cao thêm một gang nữa. Lớp trưởng 5A năm nào cũng được dạy một việc từ ngày đầu: ghi sĩ số lớp mình vào ô bên trái, còn ô bên phải thì để yên, đừng xoá, đừng hỏi. Trẻ con Yên Khê học việc ấy nhanh, như học tránh một cái hố ở sân.

Đêm nào tôi cũng ngồi bàn thứ hai từ dưới lên. Cô dạy chậm. Một bài cô cho đọc đến khi cả lớp thuộc thật, có khi hết một mùa, có khi hơn. Sách có ba mươi sáu bài. Bây giờ đang bài ba mươi tư.

Hết sách thì sao, tôi không hỏi. Trò không hỏi cô câu ấy.

Sáng nay tôi vào lớp sớm như mọi sáng. Góc phải bảng, sĩ số hai mươi lăm, vắng không. Trên cao, đầu bài. Bài 34. Và dưới đầu bài, một dòng nhỏ, cùng nét chữ ấy, mà hai mươi năm nay tôi chưa thấy bao giờ.

Dặn dò: ôn tập cuối năm.