Chương 8: Nét chữ số bốn
Khoảng 5 phút đọc·10lượt xem
Tôi không xoá. Tôi dựng cái ghế lên, cầm cuốn sổ soạn bài trên bàn giáo viên, mở ra, và đứng sát bảng so từng nét.
Số bốn kín đầu, nét xiên bên trái kéo dài quá chân một chút. Chữ S ở đầu chữ Sĩ có cái móc nhỏ ở trên, như một cái vòi ấm. Dấu ngã nằm nghiêng, đầu nặng đuôi nhẹ. Hai chấm sau chữ số, cái dưới to hơn cái trên. Giữa chữ và số bao giờ cũng cách một khoảng rộng hơn bình thường.
Trên bảng thế nào thì trong sổ thế ấy. Không phải giống. Là một.
Tôi đứng đó cho đến lúc tay cầm sổ mỏi. Rồi tôi ôm sách, ôm sổ, lấy xe, đạp sang xóm Chùa. Bảy giờ sáng chủ nhật, làng vắng, sương chưa tan, cau nhà ông Cẩn ướt từ gốc đến ngọn.
* * *
Ông Cẩn đang quét sân. Thấy tôi, ông dựng chổi vào gốc cau, không hỏi, vào nhà pha nước. Tôi đặt cuốn sổ lên chõng, mở trang bìa.
Ông Cẩn nhìn dòng chữ mực tím. Hai tay ông đặt lên mép chõng, các ngón bấu vào tre. Ông không chạm vào cuốn sổ. Một lúc lâu ông mới nói, giọng không còn giữ được đều như mọi lần.
"Chữ cô Nhàn."
Tôi đưa tấm ảnh. Ông cầm, đưa ra xa mắt, rồi lại đưa gần.
"Chụp ở cửa lớp 5A trường cũ. Gốc bàng này. Tôi chụp. Máy ảnh của uỷ ban, hôm trường được giấy khen."
Tôi hỏi, và câu hỏi ra khỏi miệng tôi bằng một giọng tôi không nhận ra, rằng ông biết tôi là ai từ bao giờ.
"Từ hôm anh dắt xe vào sân này. Mặt anh là mặt cô ấy. Tôi dạy cạnh lớp cô ấy hai năm, nhìn cái mặt ấy mỗi ngày."
Ông Cẩn đặt tấm ảnh xuống cạnh cuốn sổ, ngay ngắn, rồi kể nốt. Mùa xuân năm bảy ba, ông là người xếp đồ của cô giáo vào cái hòm gụ, đạp xe sang Hoài Thượng, đưa cho bà cụ. Bà cụ không khóc. Bà cụ chỉ hỏi ông có tìm thấy xác con gái không. Ông nói không. Bà cụ ngồi im rất lâu rồi bảo, thế thì nó vẫn ở bên ấy, chưa về. Rồi bà cụ bắt ông hứa một điều.
"Đừng bao giờ để thằng bé biết mẹ nó nằm ở đâu. Đừng để nó sang. Nó sang thì mẹ nó nhận ra nó."
Tôi hỏi sao ông không nói với tôi ngay từ đầu. Ông Cẩn nhìn tôi.
"Vì tôi đã hứa với bà cụ. Và vì lúc anh đến, cô ấy chưa gọi anh. Tôi còn mong anh nghe một hai đêm rồi sợ mà xin đi. Người khác đều thế cả."
"Nhưng anh thuộc bài. Không ai dạy mà anh thuộc. Hôm anh đọc câu bài vẫn học cho xong mà không vấp, tôi biết là muộn rồi."
* * *
Tôi kể cho ông nghe đêm qua. Giọng đọc mẫu. Câu thứ mười một. Giọng tôi vỡ. Ba chữ em đọc lại. Cái bảng sáng nay.
Ông Cẩn nghe xong, thở ra một hơi dài.
"Cô ấy không làm gì anh đâu. Cô ấy đang dạy. Cô giáo nào cũng thế, trò đọc sai thì bắt đọc lại, trò không đọc lại thì chưa cho về. Ba mươi mốt năm bài không hết vì thiếu người. Thằng Tích vào rồi, đủ hai mươi tư, bài vẫn không hết, vì cô ấy đã nhận thêm anh. Bây giờ thiếu anh."
Tôi hỏi nếu tôi không quay lại thì sao. Ông Cẩn không trả lời ngay. Ông cầm cái xe điếu, không hút, chỉ xoay.
"Thì sĩ số cứ là hai lăm, vắng một. Lớp không về được. Còn anh, anh đi đâu cũng mang bài ấy trong đầu. Anh sẽ nghe câu em đọc lại ở trường khác, nhà khác, lúc anh già. Người ta chạy khỏi một cái trường được. Không chạy khỏi một câu mình đã thuộc."
Tôi hỏi vì sao bà ngoại giấu tôi cả đời. Ông Cẩn nhìn ra sân.
"Bà cụ bảo tôi, nó có một đứa con thì nó phải dạy nốt cho đứa con ấy. Bà cụ không muốn thế. Bà cụ muốn anh được làm người không thuộc bài."
* * *
Lễ cầu siêu làm lúc chín giờ, dưới gốc bàng. Sư thầy chùa làng, bốn bà vãi, một bàn lễ trải vải vàng, hoa quả, oản, hai mươi bốn bát cơm úp nhỏ xếp thành bốn hàng. Người làng đến đông hơn tôi tưởng, đứng kín sân, người già nhiều, đứng cách bàn lễ một khoảng như đứng cách một miệng hầm.
Sư thầy đọc tên. Hai mươi ba tên trẻ con, mỗi tên một tiếng chuông. Nguyễn Văn Cải. Tôi nghe tên ấy và thấy cái vệt chỉ đỏ trên vành mũ. Đến tên thứ hai mươi tư, sư thầy dừng, nhìn ông Cẩn. Ông Cẩn bước lên, đứng thẳng, nói to, lần đầu tiên sau ba mươi mốt năm cái tên ấy được nói to lên giữa làng này.
"Nguyễn Thị Nhàn. Giáo viên. Hai mươi ba tuổi."
Chuông.
Tôi đứng cuối sân. Không ai biết tôi là ai, trừ ông Cẩn, trừ cô Lan đang nhìn tôi từ bên kia bàn lễ, mắt đỏ, và không quay đi.
Lễ xong, người ta hoá vàng, khói bay vào tán bàng. Tôi đứng lại khi sân đã vắng. Tôi rút tấm ảnh ra, giơ lên ngang tầm mắt, nhìn thân cây sau lưng mẹ, rồi nhìn thân cây trước mặt. Ngang đầu người, trên vỏ bàng, có một cái u sẹo tròn, lõm ở giữa, như một con mắt nhắm. Trong ảnh, ngay sau vai mẹ, cũng có một con mắt nhắm như thế. Ba mươi mốt năm nó chỉ lên cao hơn một gang tay.
Tôi cất ảnh. Cô Lan đến đứng cạnh tôi, không nói gì một lúc. Rồi cô đưa tôi chùm chìa khoá trường.
"Tối nay thầy trực. Tôi không gạch tên thầy nữa."
Tôi nhận chìa khoá. Tôi bảo cô tôi không chạy nữa đâu. Cô Lan gật, và tôi thấy cô cũng đang cố cho tay mình đừng run.