Chương 2: Bà cụ đầu cầu thang
Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem
Tôi làm ca ngày ở nhà máy. Sáu giờ sáng đạp xe ra bến, qua phà sang bên kia sông Cấm, bảy giờ có mặt ở ụ tàu. Cả ngày tôi nằm bò trong bụng một con tàu chở hàng đang đóng dở, hàn từng mối nối vách ngăn. Mùi kim loại cháy bám vào tóc, vào da, tắm ba lần không hết. Tối về tôi chỉ muốn ăn bát cơm rồi lăn ra ngủ.
Đầu cầu thang tầng bốn có một bà cụ ngồi bán nước chè. Bà tên Lựu, ở phòng 44, góa chồng từ thời đánh Mỹ, mắt kéo màng một bên. Hàng của bà là cái chõng tre, cái ấm tích ủ trong giỏ, mấy lọ kẹo lạc với một bao thuốc lào. Bà ngồi đấy từ sáng đến khuya, ai lên xuống bà cũng biết.
Chiều thứ ba tôi về, dừng lại uống chén chè. Bà Lựu nheo con mắt còn tốt nhìn tôi, rồi cười, cái miệng móm ăn trầu đỏ.
"Đức à? Về rồi đấy à? Mấy hôm nay đi đâu mà mất mặt thế con?"
Tôi bảo cháu tên Toàn, mới thuê phòng 46. Bà ngẩn ra một lúc, rồi xua tay.
"À, ừ, nhầm. Đức là thằng ở phòng ấy trước. Cũng cao cao như anh, cũng đi làm về giờ này. Già rồi, mắt mũi kém."
Bà rót chè, tay run, nước sóng ra ngoài chén. Tôi hỏi thằng Đức ấy đi đâu. Bà bảo nghe nói trốn nợ vào Nam. Rồi bà im, quạt cái quạt nan phành phạch, mặc dù trời đã sang thu.
* * *
Từ hôm đó tôi gõ tường mỗi tối.
Tôi không định thế. Tôi chỉ muốn chứng minh với mình rằng hôm trước là trùng hợp. Đêm thứ hai, tôi gõ một tiếng. Bên kia gõ một tiếng. Đêm thứ ba, tôi gõ năm tiếng, cách đều. Bên kia đợi chừng mười giây, rồi gõ năm tiếng, cách đều.
Đêm thứ tư, tôi gõ bảy tiếng, gõ nhanh, lộn xộn, có chỗ dồn hai tiếng sát nhau. Bên kia gõ lại bảy tiếng. Đúng nhịp ấy. Chỗ tôi dồn, bên kia cũng dồn.
Tôi ngồi bật dậy, bật đèn. Cái bóng đèn tròn trên trần vàng đục, ruồi đậu kín. Tôi áp tai vào tường. Tôi nghe thấy tiếng máu mình chảy trong tai, tiếng tủ lạnh nhà ai đó rì rì ở tầng dưới, tiếng còi tàu từ phía cảng Hoàng Diệu. Bên kia tường không có tiếng gì. Không tiếng thở, không tiếng bước chân, không tiếng giường kẽo kẹt.
Nhưng tôi ngửi thấy một mùi. Rất nhẹ, lẫn trong mùi vôi ẩm. Mùi chiếu cói để lâu trong chỗ kín, ngai ngái, với một chút gì ngọt lợ như mùi nước ao tù mùa hè.
Tôi ngồi đến hai giờ sáng mới tắt đèn.
* * *
Cuối tuần tôi được nghỉ. Tôi mang cái điếu cày của mình ra chõng bà Lựu, mua bao thuốc lào, ngồi hút với bà. Ngồi lâu thì bà kể.
Phòng 47 là của ông Khải. Ông là thủy thủ tàu viễn dương, đi biển ba chục năm, về hưu thì ở một mình. Vợ mất sớm, con trai duy nhất hy sinh ở biên giới năm bảy chín. Ông ít nói, hay ngồi ở cái chuồng cọp nhìn ra phía biển, tối đến thì tụng kinh lầm rầm. Về già ông lẩn thẩn, có hôm mặc áo bông giữa trưa tháng Sáu.
"Thế ông ấy mất thế nào hả bà?"
Bà Lựu rít một hơi thuốc lào, nhả khói qua kẽ răng.
"Chết một mình. Mùa hè năm chín lăm. Chết trong phòng mấy tuần mà cả dãy không ai biết. Đến lúc biết thì..."
Bà không nói hết. Bà gõ cái điếu vào chân chõng, gõ mạnh, như muốn đuổi câu chuyện đi.
Tôi hỏi sao mấy tuần mà không ai biết, dãy nhà đông thế. Bà bảo hè năm ấy nóng, nhà nào cũng đóng cửa bật quạt, mà ông Khải vốn không giao du. Chỉ có thằng Đức phòng bên hay qua lại. Thằng ấy tốt bụng, gánh nước hộ ông, mua cơm hộ ông.
"Thế lúc ấy thằng Đức đâu?"
"Nó đi rồi. Đi trước đấy. Cả dãy bảo nó trốn nợ, chứ có nó thì ông Khải đâu đến nỗi."
Bà nói thế, nhưng con mắt còn tốt của bà không nhìn tôi. Nó nhìn qua vai tôi, dọc hành lang, về phía cánh cửa có hai dải giấy niêm phong.
* * *
Đêm hôm ấy tôi quyết không gõ nữa.
Tôi tắm rửa, ăn bát mì tôm, nằm đọc tờ báo An ninh Hải Phòng cũ đến mười giờ. Tôi quay lưng vào tường, mặt ra phía cửa. Tôi nói với mình, ai đó ở tầng trên, ai đó trong đường ống, ai đó nghịch dại. Không gõ thì không có gì để đáp.
Gần mười một giờ, tôi sắp ngủ thì nghe.
Cộc. Cộc. Cộc.
Lần này tôi không gõ trước.
Tiếng gõ từ bên kia tường, ngay sau gáy tôi. Ba tiếng, chậm, đều, như người gõ cửa nhà quen mà không muốn làm người ta giật mình.
Rồi im. Một lúc lâu. Như đang đợi.
Tôi nằm cứng người, không quay lại. Lưng áo tôi ướt đẫm, dính vào chiếu. Tôi không gõ đáp.
Bên kia đợi rất lâu. Rồi lại gõ ba tiếng, lần này nhanh hơn một chút. Rồi lại đợi. Rồi lại ba tiếng nữa, nhanh hơn nữa, gõ mạnh đến mức tôi cảm thấy cái rung truyền qua chân giường sắt, lên tận lưng mình.
Rồi thôi hẳn.
Trong cái im lặng sau đó, tôi nghe rõ một tiếng rất nhỏ, như có ai bên kia đang trượt người xuống, lưng cọ vào tường, chậm chạp, cho đến khi ngồi bệt dưới sàn.
Đúng chỗ ngang với cái giường của tôi.