Chương 3: Chùm chìa khoá thừa
Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem
Sáng chủ nhật, tôi bắc cái ghế đẩu lên giường, trèo lên gác xép.
Gác xép thấp, ngồi không thẳng lưng được. Bụi dày một đốt ngón tay, mạng nhện giăng từ xà xuống như màn. Trong góc có một cái thùng các tông đựng mì tôm Miliket, băng dính đã khô giòn, bung ra khi tôi kéo. Đồ của người thuê trước. Của thằng Đức.
Tôi bê cái thùng xuống, đổ ra chiếu.
Một đôi dép tổ ong màu trắng ngà, cỡ bốn mốt, quai đã giãn. Hai cái áo phông cũ có chữ của một hãng sơn. Một cái đài cát xét vỏ nhựa đen, nắp băng bị gãy bản lề. Một cuốn sổ bìa xanh loại học sinh. Một phong bì thư chưa dán tem. Và một chùm chìa khoá buộc bằng sợi dây dù đỏ.
Chùm chìa có hai chiếc.
Tôi cầm chìa thứ nhất tra vào ổ khoá cửa phòng mình. Vừa khít, xoay êm, đúng như chìa cô Hạnh đưa. Chìa thứ hai to hơn, răng thô, đầu chìa có khắc một chữ K bằng mũi đinh. Nó không vừa ổ nào trong phòng tôi.
Tôi để nó sang một bên.
* * *
Cuốn sổ là sổ chi tiêu. Chữ bút bi xanh, nhỏ, nghiêng, đúng nét chữ sau tờ lịch bóc. Mỗi trang là một tháng. Tiền gạo, tiền dầu hỏa, tiền gửi về quê, tiền trả cô Hạnh. Có tháng ghi "nợ cô Hạnh", gạch chân hai lần.
Cuối mỗi dòng ngày có một ký hiệu lạ. Ba vạch nghiêng, một gạch ngang, rồi lại ba vạch nghiêng. Ngày nào cũng có, từ đầu năm 1994.
Tôi nhìn ký hiệu ấy lâu lắm mới hiểu. Ba vạch, một gạch, ba vạch. Gõ ba, đáp ba.
Thằng Đức cũng gõ tường. Tối nào nó cũng gõ, và tối nào cũng có người đáp. Nó ghi lại như người ta ghi chỉ số công tơ.
Tôi lật đến tháng Tư năm 1995. Ký hiệu vẫn đều. Sang đầu tháng Năm, mấy ngày liền, sau ba vạch nghiêng chỉ có một số không. Ba vạch, gạch ngang, số không. Rồi đến ngày mười hai tháng Năm thì không có ký hiệu nữa. Cuối trang ấy có một dòng chữ viết vội, nhòe như bị nước rớt vào, tôi chỉ đọc được hai chữ đầu "Ông bảo" và chữ cuối "đừng nói".
Từ đó đến giữa tháng Bảy, sổ chỉ còn tiền gạo, tiền nước. Không ghi gì về tiếng gõ.
Trang cuối cùng là ngày 14 tháng Bảy. Một dòng: "Mua đá cây, hai nghìn." Hết.
* * *
Buổi chiều tôi gặp ông Chiến, tổ trưởng dân phố, đi thu tiền nước. Ông chừng sáu mươi, bộ đội phục viên, đeo kính lão gọng nhựa, kẹp sổ dưới nách. Tôi mời ông điếu thuốc, hỏi về phòng 47.
Ông bảo nhà ấy là nhà phân phối của công ty vận tải biển cho ông Khải. Ông Khải chưa làm thủ tục mua lại thì mất. Không vợ, không con, họ hàng ở quê Kiến Thụy thì chẳng ai lên nhận. Phường dán niêm phong chờ công ty thu hồi, mà công ty thì đổi tên hai lần, hồ sơ nằm đâu không ai biết.
"Mười năm rồi, cứ treo thế. Có người xin mua, phường bảo chưa được."
"Ông ấy mất vì bệnh hả bác?"
Ông Chiến tháo kính, lau vào vạt áo. Ông bảo phường kết luận chết già, đột quỵ, không có dấu hiệu gì khác. Cửa khoá trong, chốt cài. Lúc phá cửa vào thì đã muộn lắm, nhà đòn phải đến ngay trong ngày, khâm liệm tại chỗ, đưa thẳng ra nghĩa trang Áng Dương.
"Ai nhận mặt hả bác?"
Ông Chiến nhìn tôi như nhìn một thằng hỏi câu ngớ ngẩn.
"Nhận mặt gì nữa anh ơi. Nằm trong phòng ông ấy, trên giường ông ấy, mặc áo ông ấy. Mà lúc ấy thì mặt mũi còn gì mà nhận."
Ông đội lại kính, ghi số nước của tôi vào sổ, rồi đi sang phòng 45. Đi ngang cửa phòng 47, tôi thấy ông bước chệch ra mép hành lang, như người ta tránh một vũng nước.
* * *
Tối ấy, tôi cầm chiếc chìa có chữ K ra hành lang.
Cả dãy đã ngủ. Bóng đèn đầu cầu thang tắt. Chỉ có ánh đèn đường vàng vọt từ dưới hắt lên qua lan can. Cửa phòng 47 đen sẫm, hai dải giấy niêm phong trắng mờ như hai vết sẹo.
Ổ khoá nằm dưới chỗ giao nhau của hai dải giấy. Giấy đã mủn, rách một đường nhỏ đúng chỗ lỗ khoá, như ai đó trước tôi đã từng chọc vào.
Tôi biết phá niêm phong là có tội. Tôi chỉ định thử xem nó có vừa không. Tôi tự nhủ thế.
Tôi đưa chìa vào. Nó trượt vào êm ru, không vướng, như ổ khoá đã đợi nó.
Tôi chưa xoay. Tay tôi còn đặt trên đầu chìa thì từ bên trong cánh cửa, ngay sát mặt gỗ, cách tay tôi chừng một gang, có ba tiếng gõ.
Cộc. Cộc. Cộc.
Rất khẽ. Rất gần. Như người đứng sau cửa, chờ tôi xoay chìa.
Tôi giật tay ra. Chiếc chìa vẫn cắm nguyên trong ổ.
Tôi lùi về phòng mình, cài then, ngồi dựa lưng vào cửa đến sáng. Sáng ra, tôi mở cửa định ra rút chìa.
Ổ khoá phòng 47 trống trơn. Chiếc chìa có chữ K đã nằm trên chiếu giường tôi, cạnh đôi dép tổ ong, buộc lại vào sợi dây dù đỏ.