☾ Truyện Ma Có Thật
← Cân gạo lệch một ký

Chương 9: Phong bì đầu tháng

Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem

Cây kim dừng ở vạch một ký. Má không nhìn nó lâu. Má lấy cái lon sữa bò trong thau nếp, đong một lon gạo trong khạp, đổ lên mặt cân, rồi bốc bớt cho tới khi kim chỉ đúng hai. Tay má làm gọn, quen, như đã làm cả ngàn lần.

Rồi má đổ gạo vô cái hũ sành nhỏ ở góc bếp. Kim lùi về số không, lùi chậm, ngập ngừng, như người được mời mà còn ngại chưa dám ngồi.

Tôi đứng nhìn má. Cái hũ sành đó có trong bếp nhà tôi từ hồi tôi còn nhỏ, dọn từ Phong Điền lên. Tôi chưa bao giờ hỏi má để gì trong đó.

"Ngồi xuống đi con," má nói.

* * *

Má kể. Má kể không khóc, giọng đều như kể chuyện giá nếp lên xuống ngoài chợ. Chỉ có hai bàn tay má là không yên, cứ lựa hạt sạn trong mâm nếp, lựa hoài một chỗ dù chỗ đó đã sạch.

Tên thật ba tôi là Lê Văn Rạng, thứ tám trong nhà, người dưới quê kêu Tám Rạng, lên chợ người ta bỏ bớt, chỉ còn thằng Tám. Ba làm bốc vác cho tiệm Hiệp Thành sáu năm. Chiều nào ba cũng xách về một ký gạo, phần lương ông Sáu trả bằng gạo.

Chiều mười bốn tháng Bảy năm chín bốn, ba không về. Má nói dối tôi chuyện ba đi Châu Đốc. Sự thật là ba ngày sau, má gửi tôi cho bà hàng xóm, đạp xe lên chợ Cái Khế một mình, hỏi thăm từng tiệm gạo cho tới khi tìm ra Hiệp Thành.

"Má tới thì thấy chỗ đặt cái cân mới lát xi măng," má nói. "Xi măng còn ướt, còn hôi vôi. Ông Sáu thấy má đứng nhìn chỗ đó thì ổng quỳ xuống. Ổng quỳ giữa tiệm, trước mặt bà Sáu, trước mặt thằng con."

Ông Sáu kể với má. Đêm đó ba ở lại khuya giúp chất bao. Chồng bao gạo lậu ông Sáu mua của ghe Campuchia chất cao tới trần, không chèn, đổ xuống. Ba nằm dưới.

Ông Sáu móc ba ra thì ba đã tắt thở, tay còn nắm cái bao giấy xi măng đựng một ký gạo chưa kịp mang về. Ông Sáu sợ. Gạo lậu, người chết, ông sợ tù, sợ mất tiệm. Ông đào nền ngay trong đêm.

Tôi hỏi má sao má không đi báo.

Má ngừng tay lựa nếp. Má nhìn tôi, nhìn cái mặt tôi giống ai đó mà tôi không nhớ được.

"Con bốn tuổi," má nói. "Má không có ruộng, không có nghề, không có bà con. Báo rồi thì ổng đi tù, ba con vẫn chết, còn hai má con ăn gì."

* * *

Ông Sáu xin má một điều: im. Đổi lại, mỗi tháng ông gửi tiền nuôi tôi ăn học tới khi ông chết. Ông bịa chuyện ba ôm tiền trốn để chợ khỏi hỏi. Má bịa chuyện ba đi theo người đàn bà ở Châu Đốc để tôi khỏi hỏi.

P. Đ. là Phong Điền. Dì Út bên ngoại không có thật.

"Tiền đó nuôi con lớn," má nói. "Má biết nó là tiền gì. Má lấy."

Má nói tiếp, và đây là chuyện tôi không ngờ nhất. Năm thứ hai sau khi ba mất, má bắt đầu nằm mơ thấy ba đứng ở đầu giường, áo ướt mồ hôi, hỏi má đủ chưa. Má không hiểu. Má lên hỏi ông Sáu. Ông Sáu tái mặt, nói sáng nào cái cân ở tiệm cũng lệch đúng một ký. Hai người lớn ngồi với nhau suốt một buổi.

"Ổng nói chắc tại bữa đó ba con chưa lãnh gạo," má nói. "Má hổng biết. Má chỉ biết đong."

Từ đó ông Sáu đong ở tiệm. Còn má thì mỗi lần nằm mơ thấy ba, sáng ra đong một lon bỏ vô hũ sành. Hũ đầy, má đem gạo ra chùa Phong Điền cúng.

"Mà ổng chưa bao giờ về tới nhà," má nói. "Ổng nằm dưới đó. Ổng chỉ đứng đầu giường má trong giấc mơ. Ổng không đi được khỏi cái cân."

* * *

Rồi má nói về anh Thạnh.

Trước khi chết, ông Sáu nhờ người tới nhà má một lần, đưa cái phong bì cuối cùng, kèm một lời nhắn: thằng con của Tám mà đứng lên cân thì Tám theo nó về được. Người dưới đó chỉ đi theo máu mủ mình. Ông Sáu không dám đào lên, không dám trả xác. Ông chỉ dám trả linh hồn về nhà.

"Má nói không," má nói. "Má không cho con dính vô. Má trả lại phong bì."

Nhưng anh Thạnh thì đã nghe ba anh dặn. Anh tìm ra tôi trên trang rao nhà đất, thấy tên tôi, quê Phong Điền, họ Lê. Anh hỏi đích danh. Anh bắt tôi ký giấy không hỏi để tôi không hỏi được ai trước khi tôi đứng lên cái cân. Ông Bảy dặn tôi đừng đứng lên. Ông Bảy nói đúng, mà ông Bảy không biết tôi là ai.

Tôi đã đứng lên. Năm mươi tám ký, rồi năm mươi chín.

Tôi nhớ hai bàn tay lạnh nắm cổ chân tôi từ phía dưới. Nắm nhẹ. Như tập cho đứa con nhỏ đứng.

* * *

Má kể xong thì trời đã khuya. Đèn bếp là bóng tròn sáu mươi oát, có con thạch sùng bò quanh. Má đứng dậy, cất mâm nếp, đậy cái hũ sành lại.

"Vậy là ổng về rồi đó con," má nói. Giọng má không vui không buồn.

Rồi má đi ra phòng khách, mở cái tủ thờ nhỏ, cái tủ thờ ông bà ngoại. Má lấy ra một cái bao giấy xi măng đã ngả màu vàng nâu, gấp gọn, cột bằng sợi thun đã giòn.

Má mở ra cho tôi coi. Bên trong là một ký gạo cũ, gạo đã ngả màu, có mọt.

"Bữa má lên tiệm hồi đó, ông Sáu đưa cái này. Ổng nói lúc móc ba con ra, ba con còn nắm chặt trong tay." Má để cái bao lên tủ thờ. "Hai mươi lăm năm má giữ. Má không dám nấu, không dám đổ."

Tôi nhìn cái bao giấy. Trên mặt giấy có năm dấu ngón tay đen in sâu, cong, hằn như bị bóp rất lâu. Dấu ngón cái lệch hẳn sang một bên, cong vẹo.

Ngoài sân, cái xe đạp cũ của ông chủ nhà dựng ở hiên, đã bỏ đó mấy năm không ai đạp, bỗng kêu "cạch" một tiếng. Tiếng chân chống được gạt lên.