☾ Truyện Ma Có Thật
← Chuông gọi y tá phòng số 7

Chương 3: Đêm mất điện

Khoảng 4 phút đọc·18lượt xem

Cuối tháng Mười có một đợt mưa dài. Mưa trung du không to nhưng dai, ngày này qua ngày khác, đồi cọ mờ trong màn nước, con dốc xà cừ trôi đầy lá. Khu B dột ở hai chỗ, người ta kê chậu hứng, tiếng nước nhỏ tong tong suốt đêm ở hành lang.

Đêm thứ Sáu tuần ấy tôi trực với chị Lan. Khoảng mười một giờ, điện toàn thị trấn mất. Khu A có máy nổ riêng cho phòng mổ và khoa Sản. Khu B dùng chung một cái máy nổ cũ đặt ở góc sân, bác Thái phải lên giật máy đến lần thứ tư mới nổ. Máy chạy phành phạch, điện yếu, bóng đèn hành lang vàng ệch, cứ sáng rồi lại tối theo nhịp máy.

Chị Lan bảo tôi đi kiểm tra các phòng, bơm tiêm điện ở phòng 3 phải chuyển sang truyền tay. Tôi đi dọc hành lang, đèn pin trong tay, từng phòng một. Đến phòng 6 là hết việc. Quay về, tôi phải đi ngang phòng 7.

Tôi không định nhìn. Nhưng tôi nghe thấy.

Một tiếng kim loại. Nhẹ, lách cách, như tiếng chân giường sắt bị đẩy trên nền xi măng. Từ bên trong phòng 7.

Tôi đứng lại. Đèn pin trong tay tôi chiếu xuống nền. Vệt sáng run. Tôi nói với mình là chuột, là giường hỏng trong kho bên cạnh, là gió. Rồi tiếng ấy lại vang lên, rõ hơn, và lần này kèm theo một tiếng rên. Rất khẽ. Tiếng rên của một người cố nhịn đau.

Tôi lùi lại. Và từ đầu hành lang, trong phòng trực, tiếng chuông kêu "reng".

Tôi chạy về. Chị Lan đã đứng dậy, đang nhìn lên bảng đèn. Bóng số 7 sáng. Mà lần này nó không sáng đều. Nó nhấp nháy. Tắt, sáng, tắt, sáng, dồn dập, như có ai đang bấm nút đầu giường liên tục, bấm bằng tất cả sức lực còn lại.

"Dây phòng 7 cắt rồi mà chị." Tôi nói, giọng không ra hơi.

"Cắt rồi." Chị Lan nói. "Chị tự cắt. Năm 1999."

Chị với tay gạt công tắc tổng. Bảng tắt. Nhưng tiếng chuông không tắt. Nó vẫn reng, từng hồi, ngay trên đầu chúng tôi, phát ra từ cái bảng đã không còn điện.

Tôi chồm lên gạt cái cần lên xuống, lên xuống, như gạt mãi thì nó phải nghe. Móng tay tôi gãy vào mép hộp mà không thấy đau. Chuông vẫn kêu. Máy nổ ngoài sân vẫn phành phạch. Nước vẫn nhỏ tong tong vào chậu. Và tiếng chuông cứ kêu.

Chị Lan đứng im một lúc. Rồi chị cầm đèn pin, mở cửa phòng trực, bước ra hành lang. Tôi gọi chị. Chị không quay lại.

Tôi không biết vì sao tôi đi theo. Có lẽ vì ở lại một mình trong phòng trực với cái chuông ấy còn đáng sợ hơn. Tôi đi sau chị chừng năm bước.

Hành lang dài hơn bình thường, hay là tôi tưởng thế. Đèn vàng chớp theo nhịp máy nổ. Qua phòng 3, ông lão sỏi thận đang ngủ, thở khò khè. Qua phòng 5, phòng 6. Đến trước cửa phòng 7, chị Lan dừng lại.

Tiếng rên trong phòng vẫn còn. Và bây giờ có thêm tiếng gõ. Gõ vào cửa. Không mạnh. Ba tiếng, nghỉ, ba tiếng. Như người gõ đã gõ rất lâu và không còn hy vọng có ai mở.

"Y tá ơi."

Giọng đàn ông, khàn, từ bên kia cánh cửa gỗ. Cách tôi hai mét. Tôi biết giọng ấy. Giọng của ông cụ ở ghế đá.

"Y tá ơi. Đau lắm... Cô vào tí. Tí thôi."

Chị Lan đứng đó. Đèn pin chị chiếu vào sợi xích. Tay chị nắm chặt cái đèn đến nỗi tôi thấy khớp ngón tay trắng bệch. Chị mở miệng, như định nói gì. Rồi chị lắc đầu, một cái rất nhỏ, không phải với tôi, không phải với cánh cửa, mà với chính mình. Chị quay người, nắm cổ tay tôi, kéo tôi đi ngược hành lang. Chị đi nhanh, không chạy, nhưng nhanh, và tay chị lạnh như tay người ốm.

Về đến phòng trực, chị đóng cửa, dựa lưng vào đó. Tiếng chuông đã thôi. Bảng đèn tối om. Ngoài sân máy nổ vẫn chạy.

Tôi hỏi chị, sao mình không mở cửa. Chị nhìn tôi, lần đầu tiên tôi thấy mắt chị như thế, đỏ và khô, mắt của người đã khóc hết từ lâu rồi.

"Không có chìa." Chị nói. "Mất rồi. Từ hồi ấy."

Rồi chị ngồi xuống giường xếp, cúi đầu, hai tay ôm lấy gáy, và ngồi như thế cho đến khi trời sáng, không nói một lời nào nữa.

Lúc giao ca, điện đã có lại. Tôi đi ngang phòng 7 ra cổng sau. Sợi xích vẫn khoá. Nhưng trên lớp bụi của cánh cửa gỗ, ở độ cao ngang ngực tôi, có những vết in. Vết của một bàn tay, gầy, các ngón dài, in từ bên trong ra, như thể lớp gỗ chỉ là một lớp màng mỏng và bàn tay ấy đã ấn vào cho đến khi gần xuyên qua.

Tôi không kể với ai. Về nhà trọ, tôi lấy giấy bút ra, viết lại mọi chuyện từ đêm trực đầu tiên. Viết xong, tôi gấp lại, cất vào đáy va li. Rồi tôi quyết định một việc mà sau này tôi không biết là đúng hay sai: tôi sẽ tìm cho ra, đêm tháng Bảy năm 1998 ấy, ai đã trực.