Chương 3: Sổ giao ca
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Lượt về thứ hai, xe tôi gãy nhíp, phải nằm lại Khe Mây chờ đồ thay. Cả đoàn chở chuyến mới đi trước, chỉ còn xe tôi với thằng Lợi ở trạm. Anh Quỳ thấy tôi viết chữ đẹp, nhờ tôi chép lại cuốn sổ giao ca. Huệ bị bỏng tay ở bếp, mấy hôm không cầm bút được, mà sổ cũ thì mối đã gặm mất một góc.
Cuốn sổ bìa các-tông, giấy pơ-luya mỏng, mực tím đã ngả màu nước chè. Mỗi đêm một dòng: ngày tháng, đơn vị, số xe qua, xe hỏng, người bị thương, người dẫn. Tôi ngồi chép ở cửa hầm, chỗ có chút ánh sáng lọt qua tán cây.
Từ đầu năm đến giữa tháng Ba, cột người dẫn ghi đi ghi lại một cái tên. Nhạn. Có đêm ghi Nhạn, Huệ. Có đêm chỉ Nhạn. Nét chữ nhiều người khác nhau, nhưng cái tên thì không đổi. Có mấy dòng ghi thêm ở cột bên cạnh: xe trúng bom, xe lật xuống hố, một lái xe hy sinh tại ngầm.
Dòng ngày mười bốn tháng Ba bị gạch. Gạch bằng mực đen, nhiều lần, đè lên nhau đến rách cả giấy. Không đọc được chữ nào bên dưới.
Từ ngày mười lăm trở đi, cột người dẫn không còn tên Nhạn nữa.
Có đêm bỏ trống. Có đêm ghi hai chữ "trạm trưởng", nét chữ nghiêng, đè mạnh, chữ của anh Quỳ. Có đêm chỉ vẽ một dấu nhân nhỏ. Và cột xe hỏng, người bị thương, từ ngày mười lăm tháng Ba trở đi, đêm nào cũng là một con số không. Trừ một đêm tháng Tư, ghi ba xe cháy, năm người, kèm một dòng chữ nhỏ: "không chờ".
Tôi lật đi lật lại mấy trang ấy. Rồi tôi nhìn về phía đầu con đường mòn, chỗ mỗi chiều mảnh vải trắng hiện ra. Đêm nào tôi cũng đi theo nó. Trong sổ, không đêm nào có nó.
* * *
Chiều hôm ấy tôi hỏi Huệ. Tay Huệ quấn lá thuốc, buộc bằng sợi vải màn. Tôi chìa cuốn sổ ra, chỉ vào cột người dẫn.
"Sao không ghi tên cô Nhạn?"
Huệ nhìn cuốn sổ. Nhìn lâu. Rồi Huệ lấy bàn tay lành đè lên trang giấy, như sợ nó bay đi.
"Anh chép thì chép y như cũ. Đừng ghi tên chị vô."
"Sao vậy?"
"Trạm trưởng dặn rứa."
Huệ đi. Tôi ngồi lại một mình với cuốn sổ. Gió từ suối thổi lên mang theo hơi lạnh. Trời đã tối dần mà tôi không dám thắp đèn.
* * *
Bữa cơm tối, anh nuôi bưng ra một nồi canh rau tàu bay nấu với mỡ hộp. Anh Quỳ ngồi đầu chiếu, bát cơm cầm trên tay. Đúng lúc ấy, ngoài đường, một chiếc xe của đơn vị khác chạy về muộn, phanh gấp ở dốc trước trạm. Tiếng má phanh của xe Zin rít lên, dài, chói, như tiếng ai kêu thét.
Anh Quỳ đánh rơi bát.
Cơm vãi ra chiếu. Cái bát sắt lăn lóc cóc vào gốc cây. Anh không nhặt. Anh ngồi đó, cái mắt còn lại mở to, nhìn ra phía con đường, hai bàn tay vẫn khum khum như đang cầm bát. Mãi đến khi tiếng máy xe kia tắt hẳn, anh mới cúi xuống, lấy tay gom cơm, từng hạt, bỏ lại vào bát.
Không ai nói gì. Anh nuôi múc cho anh bát khác. Anh lắc đầu, đứng dậy về hầm.
Tôi theo anh. Đến cửa hầm, tôi giơ cuốn sổ lên.
"Anh Quỳ, sổ ghi từ tháng Ba là anh dẫn đoàn. Mà em chưa thấy anh ra trọng điểm đêm nào."
Anh quay lại nhìn tôi. Ngọn đèn dầu trong hầm hắt lên nửa mặt anh, nửa mặt có cái hốc mắt khâu kín.
"Tôi là trạm trưởng. Đoàn nào qua đây tôi chịu. Thế là tôi dẫn."
"Thế còn cô Nhạn?"
"Cậu cứ đi theo mảnh vải trắng," anh nói. "Ai dẫn thì đừng hỏi."
Anh kéo tấm phên che cửa hầm lại.
* * *
Đêm đó tôi không ngủ được. Tôi nằm võng nghe tiếng suối, nghĩ về cái lán riêng của cô Nhạn mà Huệ bảo ở phía trên suối. Gần nửa đêm tôi dậy, men theo bờ suối đi ngược lên. Trăng hạ tuần mới mọc, lọt qua tán lá loang lổ.
Đi chừng hai trăm thước thì thấy cái lán. Nó nằm trên một mỏm đất cao, sát vách đá.
Lán đã sập một nửa. Mái lá cọ mục rữa, rũ xuống thành từng mảng. Rêu xanh phủ kín mấy cái cột. Bên trong, cái sạp nứa đã gãy, một con rết to bằng ngón tay bò chậm rãi trên mặt sạp. Mùi ẩm mốc, mùi lá rữa. Không có võng, không có ba lô, không có cái bát nào. Cái lán này không có người ở đã mấy tháng nay.
Trên một cây cột còn đứng, ngang tầm mắt, có treo một vật. Tôi lại gần. Một cái mũ tai bèo, vải bạc trắng, vành rách một miếng. Nước từ vành mũ nhỏ xuống đều đều, tí tách trên nền đất, dù đêm ấy trời khô rang, không một giọt sương.
Sau lưng tôi có tiếng cành cây gãy.
"Anh lên đây làm chi?"
Huệ đứng ở bờ suối, tay quấn lá thuốc ôm trước ngực. Giọng Huệ run.
"Trạm trưởng cấm người ngoài lên đây. Anh về đi. Chị sắp về rồi đó."