Chương 3: Người đứng sau lưng
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Một tuần sau Danh tới đúng hẹn, cũng vào xế chiều, cũng áo sơ mi dài tay. Anh ta dựng xe, không bước vô liền, đứng ngoài cửa kính nhìn vô một lúc. Tôi ngồi bàn thợ, thấy anh ta nhìn lên bức tường chỗ treo cái Ô-đô, rồi mới đẩy cửa.
Tôi nói thiệt. Máy sạch, không hư gì, tôi đã thay dây treo, lên dầu, cân lại. Nó chạy. Nhưng cứ tới chỗ hai cây kim chồng lên nhau là dừng, bất kể tôi chỉnh kim thế nào, bất kể đang ngày hay đêm. Tôi nói tôi làm nghề hai mươi lăm năm chưa gặp cái nào vậy.
Anh ta nghe, không ngạc nhiên. Anh ta đứng im một chút rồi hỏi:
"Có bữa nào nó chạy qua được ba giờ mười lăm không anh? Một lần thôi cũng được."
Tôi nói không. Anh ta cúi đầu. Rồi anh ta làm lại cái việc hôm trước. Trong lúc tôi mở nắp đồng hồ chỉ cho coi dây treo mới, anh ta đi vòng ra sau lưng tôi và đứng đó. Không ngó máy. Tôi không cần quay lại cũng biết anh ta đang nhìn chỗ nào.
Tôi hỏi, để phá cái im lặng sau gáy:
"Đồng hồ này của cậu anh hả? Ổng còn không?"
"Mất rồi anh. Hồi tháng Ba."
"Ổng mất lúc mấy giờ?"
Anh ta ngưng một chút. Không lâu, nhưng tôi nghe được cái ngưng đó rõ như nghe một cái đồng hồ hụt nhịp.
"Người ta nói rạng sáng."
Tôi không hỏi thêm. Tôi biết chuyện đồng hồ dừng khi chủ mất, hồi nhỏ ba tôi kể, nhà nào có người đi thì lấy vải đen phủ đồng hồ với gương, kẻo người đi nhìn lại. Tôi không tin lắm, nhưng cũng không cười. Tôi hỏi nhà có bao nhiêu người, ai hay lên dây cho nó. Anh ta nói chỉ có hai cậu cháu, cậu Hai góa vợ, anh ta ở chung từ hồi mười tám tuổi, lên dây là việc của cậu, mỗi sáng chủ nhật.
"Giờ nhà còn ai?"
"Còn tôi. Với dì tôi hay qua."
Anh ta móc túi ra thêm tiền, lần này nhiều hơn, cũng những tờ giấy nhựa mới. Tôi đẩy lại. Tôi nói chưa sửa được thì chưa lấy. Anh ta cứ để trên bàn.
"Anh ráng giùm tôi. Nhà tôi cúng trăm ngày cho cậu vào cuối tháng Sáu. Tôi cần nó chạy trước bữa đó. Chạy qua cái giờ đó, có người nhà tôi đứng coi."
Tôi hỏi sao phải có người đứng coi. Anh ta nhìn tôi, lần đầu tiên nhìn thẳng, mắt đỏ lên nhưng không khóc.
"Dì tôi nói cái đồng hồ đó là cậu tôi. Ổng chưa đi. Ổng còn giữ nó."
Rồi anh ta xin lỗi, nói chuyện nhà không nên kể, chào tôi ra về. Tôi đứng trong cửa nhìn anh ta đạp máy. Trước khi chạy anh ta ngoái lại nhìn lên bức tường một lần nữa, chỗ cái đồng hồ, bằng cái nhìn của người ta nhìn một cánh cửa đóng.
* * *
Buổi tối tôi kể chuyện cho vợ nghe, kể cho nhẹ bớt. Vợ tôi nghe xong nói gọn, đem trả người ta đi, lấy tiền công rửa máy, đừng ham. Tôi nói để tôi coi thêm vài bữa. Nghề tôi không chịu nổi một cái máy sạch trơn mà không chạy. Nói vậy chứ tôi biết tôi còn một lý do nữa. Tôi muốn biết nó dừng vì cái gì.
Đêm đó tôi không ngủ được. Hơn hai giờ sáng tôi xuống tiệm, không bật đèn, ngồi ở bàn thợ nhìn ra hẻm. Hẻm tối, đèn đường ngoài Nguyễn Trãi hắt vô một vệt vàng. Tiếng xe rác lạch cạch xa xa, tiếng chó sủa bên kia đường. Trong tiệm, mấy chục cái đồng hồ rơi tiếng như mưa.
Tôi ngồi nghe. Tôi nghe được cái cúc cu của ông khách ở Bàn Cờ, nhịp nhanh và khô. Cái Seiko chạy pin, tiếng giật từng nấc. Cái tủ đứng của ông Phú Nhuận, tiếng trầm nhất, như nhịp tim người già. Cái Junghans của ba tôi treo trên cao, ba mươi năm chưa dừng, tiếng đanh và đều nhất tiệm. Và cái Ô-đô, bước chân trên sàn gỗ.
Tiếng xe rác đã đi xa. Con chó bên kia đường thôi sủa lúc nào tôi không hay. Rồi tôi để ý tiếng mưa trong tiệm bắt đầu khác.
Tôi không biết tả làm sao. Những cái đồng hồ trước giờ mỗi cái một nhịp, lệch nhau, chồng lên nhau, thì bây giờ như đang nhích lại gần nhau. Tiếng tích của cái này rơi vào gần tiếng tắc của cái kia. Rồi gần hơn. Như một đám người đi bộ lộn xộn mà dần dần ai cũng bước đều chân. Tôi ngồi thẳng lên.
Khi tụi nó gần như bước chung một chân, cái Ô-đô gõ bốn nốt nhạc ngắn rồi dừng.
Và cái cúc cu dừng theo.
Tôi nghe rõ. Cái nhịp nhanh và khô mất đi, như người đang nói bỗng ngậm miệng. Tôi đứng dậy bật đèn. Cái cúc cu của ông khách Bàn Cờ, cái tôi vừa thay dây xích tuần trước, treo cạnh cái Ô-đô, quả lắc hình lá rủ thẳng. Kim của nó chỉ ba giờ mười lăm.
Tôi đứng dưới hai cái đồng hồ đứng im kế nhau. Phía sau lưng tôi, mấy chục cái kia vẫn chạy, nhưng tôi có cảm giác tụi nó đang chạy nhỏ tiếng lại, như đang lắng nghe. Rồi tôi ngửi thấy một mùi lạ trong tiệm, thoảng qua rồi mất. Mùi dầu gió xanh, loại người già hay xức thái dương.
Tiệm tôi không có ai xức dầu gió.