☾ Truyện Ma Có Thật
← Ba giờ mười lăm

Chương 4: Cả tiệm dừng theo

Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem

Sáng ra tôi đẩy quả lắc cái cúc cu, nó chạy lại bình thường. Tôi mở máy coi, dây xích tôi thay còn mới, bánh răng không có gì. Tôi lấy cớ gọi điện cho ông khách Bàn Cờ nói đồng hồ xong rồi, ông ghé lấy. Ông ghé buổi trưa, trả tiền, xách về. Tôi thở ra được một hơi.

Ba ngày sau, tới lượt cái Seiko chạy pin.

Cái đó tôi treo để coi giờ cho tiệm, mua ở chợ Kim Biên mười mấy năm trước, pin mới thay hồi Tết. Buổi sáng tôi ngó lên thấy nó chỉ ba giờ mười lăm, kim giây đứng im ở số chín. Tôi tháo xuống, thay pin khác. Chạy. Sáng hôm sau, lại đứng chỗ đó.

Thay pin lần nữa, đổi cả máy bằng một cái máy mới còn trong bịch. Sáng hôm sau nữa, kim giây không đứng ở số chín. Nó tuột khỏi trục, nằm gục dưới đáy mặt kính, còn hai cây kim kia chồng khít lên nhau ở số ba.

Tôi đem nó cất vô ngăn kéo.

Tuần đó tiệm tôi dừng dần từng cái. Cái tủ đứng của ông Phú Nhuận dừng hôm thứ năm. Một cái đồng hồ bàn hiệu Nhật của một cô giáo ở Chợ Quán, tôi mới nhận hôm trước, sáng hôm sau đã chắp tay. Mỗi sáng xuống tiệm tôi đứng ở cửa đếm. Tiếng mưa trong tiệm mỏng đi từng ngày. Tôi đẩy từng quả lắc, chỉnh từng kim, tụi nó chạy lại hết, ngoan ngoãn, rồi đêm sau lại dừng.

Không cái nào hư. Đó là cái làm tôi sợ. Nếu hư, tôi biết phải làm gì.

Tôi để ý một chuyện nữa. Tụi nó dừng theo thứ tự xa gần. Cái cúc cu treo sát cái Ô-đô dừng trước. Rồi cái Seiko cách một thước. Rồi cái tủ đứng ở góc. Như một vết nước loang từ chỗ cái Ô-đô ra, mỗi đêm thêm một gang.

Vợ tôi không nói đem trả nữa. Vợ tôi đi chùa Bà về, đưa tôi một gói muối với mấy nhánh dâu, biểu rải quanh tiệm, treo nhánh dâu ở cửa. Tôi làm theo. Tôi là thợ máy, tôi không tin, nhưng tay tôi vẫn rải muối rất đều.

* * *

Đêm thứ bảy tôi quyết định ngồi canh. Tôi nói với vợ tôi xuống tiệm làm đồ cho khách gấp. Vợ tôi nhìn tôi, không cản, chỉ dặn để đèn.

Tôi để đèn. Tôi kéo cái ghế thợ ra giữa tiệm, ngồi nhìn lên bức tường. Hơn hai mươi cái đồng hồ còn chạy. Cái Ô-đô tôi đã đẩy quả lắc lúc chín giờ tối, nó bước đều trên sàn gỗ. Tôi để ý thấy mình ngồi quay lưng ra cửa, và tôi muốn xoay ghế lại, nhưng tôi không xoay. Tôi muốn coi mình chịu được bao lâu.

Khuya lắm, ông Chín bán thuốc lá dọn sạp về ngang, gõ cửa kính hỏi sao chưa ngủ, tôi đưa tay ra hiệu không sao. Hẻm vắng hẳn.

Rồi mùi dầu gió xanh lại tới. Lần này không thoảng. Nó đậm dần, như có người vừa xức ngồi xuống cách tôi hai bước. Tôi không quay lại.

Tiếng mưa trong tiệm bắt đầu gom lại. Tôi nghe rõ hơn đêm trước, vì tôi đã chờ nó. Từng cái đồng hồ nhích nhịp của nó về phía nhịp cái Ô-đô. Bóng đèn trên đầu tôi chập chờn hai lần rồi sáng lại.

Cả tiệm gần như bước một chân. Rồi bước một chân. Tiếng tích tắc không còn là mưa nữa. Nó là một người đi.

Và tôi cảm thấy có ai đứng sau lưng tôi.

Không phải cảm giác mơ hồ. Tôi cảm thấy chỗ đó có người, như người ta cảm thấy có người bước vô phòng lúc mình đang cúi viết. Gáy tôi lạnh, đúng chỗ ngón tay lạnh hôm Danh đứng. Tôi nghe được cả hơi thở, chậm, hơi khò khè, của người lớn tuổi. Hai tay tôi nắm chặt mép ghế.

Cái Ô-đô gõ bốn nốt.

Cả tiệm im. Không còn một tiếng tích tắc nào. Im tới mức tôi nghe được tiếng máu trong tai.

Trong cái im đó, tôi nghe sau lưng mình một tiếng động. Không phải bước chân. Là tiếng một cái gì nặng, cùn, rơi xuống cái gì mềm. Một tiếng thôi, ngắn, đục. Như người ta đập một trái dừa xuống đất mà trái dừa không bể.

Tôi quay phắt lại.

Không có ai. Tấm màn vải ngăn chỗ bàn thợ với lối lên gác đang đung đưa nhẹ, mà trong tiệm không có gió. Cửa kính khóa. Muối vợ tôi rải còn nguyên một đường trắng dưới đất.

Tôi quay lại nhìn tường. Cả tiệm chắp tay. Hơn hai mươi mặt đồng hồ, cái lớn cái nhỏ, cái tròn cái vuông, cái nào kim cũng chồng lên nhau ở ba giờ mười lăm. Chỉ còn cái Junghans của ba tôi trên cao là còn chạy, tiếng đanh và đều, một mình.

Tôi ngồi lại xuống ghế. Tôi không biết ngồi bao lâu. Tới khi ngoài hẻm có tiếng xe bánh mì thì tôi mới nhìn xuống cổ tay mình.

Cái Seiko tự động ba tôi để lại, tôi đeo mười hai năm từ ngày ông mất, chưa bao giờ tháo ra quá một ngày. Nó đứng. Kim giờ qua số ba, kim phút ngay số ba.

Tôi lắc tay. Nó không chạy. Tôi lắc nữa. Tôi gỡ nó ra, bỏ vô túi áo, và lần đầu tiên từ ngày ba mất, cổ tay tôi trống.