☾ Truyện Ma Có Thật
← Giường thứ tám

Chương 4: Bậc thềm đêm hăm ba

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Bác Cầu bảo vệ ở cái chòi gạch cạnh cổng trường, một mình với cái đài chạy pin và ấm chè xanh lúc nào cũng đặc. Bác người xã Châu Hạnh, ngoài sáu mươi, từng đi bộ đội, nói chậm. Học sinh nội trú ai cũng quen bác vì bác mở cổng khu cho chúng tôi mỗi sáng, lúc cô Lam chưa dậy.

Giữa tháng Mười Một, tôi ra chòi bác một chiều thứ bảy, khi ký túc vắng. Tôi mang theo gói chè khô mẹ gửi. Bác pha, rót, nhìn tôi qua làn hơi nước, rồi hỏi trước khi tôi kịp mở miệng:

"Phòng bảy phải không."

Tôi gật. Bác thở dài, bỏ thêm chè vào ấm dù ấm còn đầy.

Chuyện bác kể tôi ghi lại ở đây theo đúng lời bác, không thêm.

Đêm hăm ba tháng Chạp năm ngoái, rét đậm, đài báo bảy độ, ở Quỳ Châu thì thấp hơn. Sương muối trắng cả sân. Mười giờ cô Lam khoá cổng khu như mọi đêm. Bác Cầu đi tuần hai lượt, mười một giờ và hai giờ sáng, soi đèn pin qua song cổng, thấy dãy nhà tối om, yên. Lượt hai giờ bác có nghe một tiếng động nhỏ phía cuối dãy, như cửa gỗ cọ vào khung, nhưng gió to, bác không để ý.

Năm giờ rưỡi sáng bác ra mở cổng. Hành lang dãy nhà trắng sương. Bác đi dọc vào gọi dậy từng phòng như mọi hôm. Đến trước phòng bảy thì bác thấy nó.

Con bé Xuân nằm co trên thềm hành lang, ngay trước cửa phòng bảy. Mặc mỗi cái áo len mỏng và quần ngủ, chân trần, không dép. Tóc dài xoã ra thềm, ướt đẫm sương, đông lại thành từng sợi cứng. Mặt quay vào cánh cửa. Hai tay co trước ngực, nắm chặt.

"Hắn còn thở, cháu ạ. Còn thở. Bác bế lên, nhẹ như con mèo. Bác đập cửa phòng bảy. Mãi bên trong mới lục tục. Chốt trong cài. Mở ra, mặt đứa mô cũng tái."

Bác với cô Lam đưa Xuân lên viện huyện bằng xe máy, bác lái, cô ôm. Đi được nửa đường thì cô bảo dừng lại. Xuân không thở nữa.

* * *

Nhà trường họp. Bảy đứa phòng bảy khai giống nhau: ngủ sớm vì rét, không biết Xuân ra ngoài lúc nào, không nghe tiếng gõ nào. Cửa chốt trong vì đêm nào cũng chốt. Sổ ghi Xuân ra nhà vệ sinh đêm, không gọi bạn mở cửa, cảm lạnh ngất ngoài thềm. Gia đình ở bản xa, lên lo tang rồi về, không kiện cáo. Chuyện khép lại trước Tết.

"Bác hỏi cháu. Rét bảy độ, đi giải mà không xỏ dép à? Dép hắn, sau bác thấy, nằm dưới gầm giường. Xếp ngay ngắn."

Tôi không trả lời được.

"Còn chuyện ni bác chưa nói với ai. Sáng đó hành lang trắng sương, mà có một vệt không sương. Dài, bằng bề ngang người nằm. Kéo từ chỗ con bé về phía cuối dãy, qua cả cửa phòng tám."

"Bác nghĩ... chắc hắn bò. Bò đi tìm cửa mô mở, rồi bò về. Bác không nghĩ được chi hơn. Lúc đó chỉ lo bế hắn đi."

Bác nhìn ra cổng, nơi hàng xà cừ đang đổ bóng dài.

"Bảy đứa đó giờ ở phòng tám cả. Lên mười hai, trường dồn sang phòng bên, lấy phòng bảy cho người mới. Cháu ở sát vách chúng nó chứ đâu."

* * *

Tôi về đến dãy nhà thì trời đã nhá nhem. Hành lang vắng. Và ở cửa phòng bảy, chị Quyên đang đứng.

Chị đứng quay lưng ra, mặt hướng vào phòng, một tay đặt lên cái chốt cửa bên trong. Chị xoay nhẹ cái chốt qua lại, qua lại, như người xoay một vật quen tay. Nghe tiếng dép tôi, chị không giật mình. Chị bỏ tay khỏi chốt, quay lại, cười như mọi lần.

"Em ra chỗ bác Cầu à."

Tôi không biết chị thấy tôi từ lúc nào. Tôi gật.

Chị Quyên vẫn cười. Nhưng chị nói chậm hơn thường ngày, từng chữ một.

"Đừng hỏi bác ấy nữa. Bác già rồi, nhớ lẫn. Chuyện gì cũng có lý do của nó, em không ở đây lúc ấy, em không hiểu đâu."

Rồi chị đi về phòng tám. Trước khi vào, chị quay lại nhìn tôi lần nữa. Lần ấy chị không cười.

* * *

Đêm ấy, lần đầu tiên tiếng gõ đến từ bên ngoài.

Mùng đã buông từ nửa đêm, tôi đã nghe tiếng giắt bốn góc, đã nghe tiếng thở. Tôi đang nằm chờ tiếng răng va thì nó đến. Nhưng không phải từ giường bên trái.

Từ cửa phòng.

Ba tiếng. Cốc, cốc, cốc. Nhẹ, bằng đốt ngón tay, chậm, cách nhau đều. Kiểu gõ của người biết mình đến muộn và sợ làm người trong nhà thức giấc.

Vân ngồi bật dậy. Nó là đứa ngủ gần cửa nhất. Nó tưởng cô Lam đi kiểm tra. Nó lần ra, mở chốt, kéo cửa.

Hành lang trống. Đèn ngoài hiên đã tắt từ mười giờ. Sương tràn vào cửa thành một luồng lạnh quét qua cả phòng, làm tấm mùng ở giường sát cửa sổ phồng lên một chút rồi xẹp xuống.

Vân đứng đó rất lâu, tay còn cầm cánh cửa. Rồi nó cúi xuống nhìn nền hành lang và kêu lên một tiếng nhỏ.

Tôi chạy ra. Trên nền xi măng trước thềm có một dấu chân trần, nhỏ, ướt, in rõ năm ngón. Rồi một dấu nữa. Rồi một dấu nữa. Hàng dấu chân đi dọc hành lang, về phía bên phải.

Chúng dừng trước cửa phòng tám.

Cửa phòng tám đóng. Bên trong im như không có ai, dù tôi biết có bảy người đang nằm đó.

Vân đóng cửa, cài chốt, rồi đứng dựa lưng vào cửa thở. Nó bảo nó không bao giờ mở nữa. Nó bảo đúng như thế.

Tôi về giường. Mùng bên trái vẫn buông. Nhưng đêm ấy không còn tiếng thở, không còn tiếng răng va. Giường trống thật sự trống.

Người nằm đó đã ra ngoài, và đang đứng trước cửa phòng tám, chờ ai đó mở.