☾ Truyện Ma Có Thật
← Hồ sơ tự mở trên bàn

Chương 1: Dãy kho sau toà

Khoảng 5 phút đọc·4lượt xem

Tháng Ba năm 2001 tôi vào làm hợp đồng ở toà án huyện. Tôi mười tám tuổi, vừa học xong lớp mười hai ở trường cấp ba dưới thị trấn, thi đại học trượt hai điểm. Một ông chú họ làm ở xã nói giúp một câu, thế là có chỗ. Tôi ở nhờ một phòng trong dãy tập thể của toà, thứ Bảy đạp xe về bản.

Nhà tôi ở bản Chiềng Lau, cách thị trấn mười hai cây số, phải qua một con dốc đất đỏ mà mùa mưa xe đạp phải dắt. Nhà chỉ có hai mẹ con. Bà ngoại mất năm tôi mười tuổi. Bố tôi thì mẹ bảo đi làm ăn xa rồi mất, không có mộ, không có ảnh, tôi lớn lên quen không hỏi.

Hôm tôi mang tờ giấy báo nhận việc về, mẹ đang chẻ lạt ngoài sân. Mẹ đọc không được, tôi đọc cho mẹ nghe. Mẹ nghe xong, ngồi im, con dao chẻ lạt vẫn cầm trong tay.

"Làm chi mà phải vô toà. Thiếu chi chỗ làm."

Tôi nói đấy là cơ quan nhà nước, có biên chế thì cả đời không lo. Mẹ không cãi. Mẹ chỉ bảo tôi đưa giấy để mẹ ký vào chỗ người giám hộ. Mẹ ký chậm, từng nét, cái chữ "Nhàn" mà tôi dạy mẹ viết từ năm tôi học lớp bốn. Ngón trỏ bên phải của mẹ có một vết sẹo chéo, trắng, chạy ngang đầu ngón. Mẹ bảo hồi con gái chẻ nứa đứt tay. Cầm bút, mẹ hay giấu ngón ấy vào trong.

Mẹ chưa lên thị trấn bao giờ. Đồ cần mua mẹ nhờ người ta, hoặc đợi chợ phiên ở xã.

* * *

Toà án huyện là một ngôi nhà hai tầng quét vôi vàng, nằm ở đầu thị trấn, trước mặt là đường quốc lộ, sau lưng là con suối nhỏ chảy xuống sông Mã. Giữa nhà chính và suối có một dãy cấp bốn lợp ngói, tường rêu xanh đến ngang hông. Đấy là kho hồ sơ.

Anh Quang, Phó chánh án, người dưới thành phố lên, dẫn tôi ra đó ngay buổi sáng đầu tiên. Anh mở cửa, một luồng hơi lạnh và mùi giấy mốc phả ra. Trong kho có sáu dãy giá sắt, hai cái tủ sắt sơn xanh, một cái bàn gỗ to kê sát cửa sổ. Hồ sơ chất trên giá, dưới đất, trong bao tải dứa, buộc bằng đủ thứ dây.

"Từ năm bảy sáu đến giờ đấy em. Tháng sau trên tỉnh xuống kiểm tra lưu trữ. Em xếp theo năm, theo loại án, ghi vào sổ. Làm từ từ nhưng đừng từ từ quá."

Rồi anh đi. Ông Thể, bảo vệ, đưa tôi chùm chìa khoá. Ông người Mường ở ngay bản dưới, làm bảo vệ ở toà từ hồi toà còn là nhà gỗ. Ông nói giọng nặng, ít lời.

"Cửa sổ nớ chốt kỹ vô. Suối gần, ẩm. Giấy mà ẩm thì mục."

* * *

Ba tuần đầu tôi chỉ làm một việc: bê, phủi, đọc bìa, xếp. Bụi bám vào mũi, vào kẽ móng tay. Mọt đục giấy thành những đường nhỏ như đường kiến.

Tôi không đọc nội dung. Anh Quang dặn văn thư không có việc đọc hồ sơ án. Tôi chỉ nhìn bìa: năm thụ lý, tên bị cáo, tội danh. Trộm trâu, đánh nhau, chặt gỗ, tranh chấp nương. Án mạng rất ít.

Chiều thứ Sáu tuần thứ ba, tôi lôi ra được bao tải của năm 1987. Trong đó có một tập dày hơn hẳn, bìa các tông màu cháo lòng, buộc dây vải trắng thắt nút chết. Trên bìa có chữ viết tay bằng mực tím đã phai: "Vụ án Đinh Văn Lâm. Tội giết người".

Tôi phủi bụi, ghi vào sổ, đặt nó vào ngăn dưới cùng của tủ sắt bên trái cùng các tập năm 1987 khác. Tôi đóng tủ, xoay khoá, khoá cửa kho, đưa chùm chìa cho ông Thể. Thứ Bảy, Chủ nhật tôi về bản.

* * *

Sáng thứ Hai tôi đến sớm. Trời có sương, mặt suối sau kho bốc hơi trắng. Tôi mở cửa kho.

Trong kho có mùi lạ. Không phải mùi giấy. Mùi mùn cưa ướt, cái mùi ở những bãi xẻ gỗ ven rừng sau một trận mưa, ngai ngái và hơi chua.

Tập hồ sơ Đinh Văn Lâm nằm trên bàn.

Nó nằm ngay giữa mặt bàn, mở ra. Dây vải trắng được cởi, vắt sang một bên. Trang đang mở là một tờ đánh máy, chữ to trên đầu: "Quyết định khởi tố bị can". Ở mép lề bên phải, gần tên Đinh Văn Lâm, có một dấu ngón tay.

Dấu ngón tay ướt. Không phải mực, không phải bùn. Nước. Những đường vân in rõ lên giấy, trong và sẫm hơn chỗ giấy khô xung quanh, như ai vừa nhúng ngón tay vào chậu rồi ấn xuống.

Tôi đứng ở cửa một lúc lâu rồi mới đi lại, cúi xuống. Tôi chạm đầu ngón tay mình vào sát dấu ấy. Lạnh. Lạnh như nước suối buổi sớm.

Tôi nhìn ra cửa sổ. Chốt vẫn cài. Tôi nhìn tủ sắt. Cửa tủ đóng, khoá vẫn ở vị trí khoá.

Tôi đứng nhìn cho đến khi dấu ngón tay khô dần từ ngoài vào trong. Khô rồi, nó để lại trên giấy một vòng gợn sóng mờ, như vết nước đọng trên mặt gỗ.

* * *

Tôi chạy sang chòi bảo vệ. Ông Thể đang ngồi pha ấm chè xanh. Tôi hỏi tối Chủ nhật có ai vào kho không, có ai mượn chìa không. Ông lắc đầu.

"Chìa tau treo đây. Tau ngủ ngay đây. Nỏ ai vô."

Tôi kể. Ông nghe, không hỏi lại câu nào. Uống xong chén chè, ông đứng dậy theo tôi sang kho. Ông nhìn tập hồ sơ trên bàn. Ông không đến gần. Ông đứng ở cửa, hai tay chắp sau lưng.

"Cất đi cháu. Buộc lại cho chặt."

Tôi buộc lại. Lần này tôi thắt hai nút. Tôi cất vào tủ, khoá, rồi kéo thử cánh cửa ba lần. Lúc tôi quay ra, ông Thể vẫn đứng đó, mắt nhìn cái bàn gỗ kê sát cửa sổ.

"Bàn nớ trước có người ngồi. Cũng con gái như mi. Làm được ba tháng thì nghỉ."

Tôi hỏi vì sao chị ấy nghỉ. Ông Thể không trả lời. Ông bước ra, đi được mấy bước thì dừng lại, nói mà không quay đầu:

"Hắn nỏ làm chi mi mô. Hắn chỉ đọc thôi."