Chương 10: Cái trâm cong
Khoảng 5 phút đọc·4lượt xem
Cụ Tư nằm hai ngày. Mắt mở, nhìn lên mái, thở từng hơi dài có tiếng. Bác Nhàn bón nước cháo bằng thìa, chảy ra mép quá nửa. Tay trái cụ vẫn nắm tờ giấy gấp tư, nắm chặt đến mức móng tay bấm vào lòng bàn tay thành vệt tím.
Tôi xin nghỉ dạy, ngồi với cụ. Tôi không biết ngồi để làm gì. Tôi chỉ biết nếu tôi đi dạy thì tôi sẽ nghĩ về tờ giấy ấy suốt buổi, nên thà ngồi cạnh nó.
Chiều ngày thứ hai, chuông làng bên gõ chiều được ba tiếng thì ngừng, ngừng lâu, rồi mới gõ tiếp. Đúng quãng ngừng ấy, hơi thở cụ Tư đổi. Ngắn lại, thưa ra. Bác Cần vào, ngồi xuống mép giường, cầm bàn tay phải đã mềm của mẹ. Bác Nhàn đứng ở cửa khóc không thành tiếng.
Bàn tay trái cụ Tư mở ra. Tự mở, các ngón duỗi dần như người buông một vật đã cầm quá lâu. Tờ giấy rơi xuống chiếu.
Bác Cần nhặt lên. Bác không mở. Bác đưa cho tôi.
"Mẹ tôi giữ cho cô. Hai mươi năm. Giờ cô cầm."
Rồi cụ Tư thở ra một hơi dài, và không hít vào nữa.
* * *
Tôi không đọc tờ giấy ngay. Tôi giúp bác Nhàn lau người cho cụ, thay áo, đặt cụ nằm ngay ngắn. Người làng đến. Đàn ông dựng rạp, đàn bà xuống bếp. Tôi ra gian nhà ngang lúc trời đã tối hẳn, đóng cửa, bật đèn, ngồi xuống giường.
Tờ giấy là trang bị xé từ cuốn gia phả. Giấy kẻ ô ly ngả vàng, mép răng cưa khớp với mép còn lại trong sổ. Chữ ông Tụy, mực tím, nét cứng và thẳng. Tôi đọc từng dòng, và tôi chép lại đây đúng như thế, vì tôi không thêm được chữ nào.
Tết Đinh Tỵ. Mơ về. Hai tám Tết đến, mồng Một đi. Ngủ gian buồng cũ. Mơ nói lấy chồng ở thành phố, làm nhà máy dệt, đổi tên là Mai. Có một con gái tên Lan, mười chín tuổi.
Mẹ bảo ở lại. Mơ không ở. Mơ xin mẹ cho mang cây trâm đi tiếp, nói để nhớ. Mẹ cho.
Mẹ nói với Mơ lúc ra cổng, tôi đứng sau nghe rõ. Mẹ nói mày không ăn thì thôi. Bát ấy mẹ không bày cho mày nữa. Mẹ bày cho đứa nào trong dòng mày mang trâm về. Trâm theo đứa nào thì đứa ấy về ăn.
Mơ khóc. Mơ không nói gì. Mơ đi.
Mậu Ngọ, tháng Hai. Mẹ bảo xây một gian nhà ngang cạnh nhà thờ cho con cháu Mơ về có chỗ ở. Không được cho người ngoài ở. Không được cho đàn ông ở. Tôi xây.
Kỷ Mùi, tháng Chín. Mẹ mất. Mâm cuối mẹ bày là mâm tất niên năm ngoái, bát thừa vẫn quay ra cửa. Trước lúc đi mẹ dặn tôi một câu. Mẹ bảo bát ấy không còn là bát của Mơ.
Dưới cùng còn một dòng nữa, chữ run hơn, mực nhạt hơn, viết sau nhiều năm.
Tôi già rồi. Tôi đưa tờ này cho chị Tư giữ, vì chị ấy sống lâu. Chị ấy không đọc được, thế càng tốt. Đứa nào về thì đưa cho nó đọc. Đừng đưa trước. Đưa trước nó sẽ đi.
* * *
Tôi ngồi với tờ giấy rất lâu.
Tôi xếp lại mọi việc theo thứ tự, như xếp bài cho học sinh. Tết năm bảy bảy, bà tôi về làng ba ngày, mang cây trâm đi tiếp, và từ đó bày thêm bát ở nhà mình, quay ra cửa, như mẹ bà đã bày. Năm bảy tám, ông Tụy xây gian nhà này. Bốn năm sau tôi mới sinh ra. Gian nhà tôi đang ngồi đã chờ tôi từ trước khi tôi có mặt.
Cái bát úp thứ năm trong giỗ năm nay là của bà. Bà mất tháng Ba. Bà đã về ngồi với các cụ.
Còn bát ngửa thì vẫn ngửa. Vẫn đầy. Vẫn ấm. Bát cúng cho người sống.
Bà tôi có hai người để trao cái hộp gỗ. Bà không trao cho mẹ tôi. Bà trao cho tôi. Câu cuối cùng bà nói được là bát ấy không phải của u nữa. Bà biết của ai. Bà giữ cây trâm hai mươi tám năm, rồi để nó lại trong hộp, trong ngăn tủ dưới cùng của tôi.
Tôi không chọn về Hải Lâm. Phòng giáo dục phân. Cô hiệu trưởng xếp chỗ. Bác Cần đến trường mỗi tháng Tám trong tám năm. Cây trâm nằm trong va li tôi suốt chuyến xe khách. Tôi tưởng tôi đi nhận việc. Tôi về ăn giỗ.
* * *
Ngoài sân, người làng đã về gần hết. Rạp dựng xong, bóng đèn tuýp treo dưới mái rạp hắt ánh sáng trắng lạnh lên mái nhà thờ. Tiếng trống phường bát âm chưa nổi, còn chờ đến sáng mai. Bác Cần ngồi một mình cạnh quan tài mẹ, lưng thẳng.
Tôi tắt đèn gian mình. Tôi nằm xuống, không cởi áo bông. Tôi không khóc. Tôi để tờ giấy trên ngực, hai tay đặt lên.
Bóng đèn tuýp ngoài rạp chập chờn mấy cái rồi tắt. Ngoài ấy không ai đứng dậy bật lại. Rồi có tiếng động ngoài sân.
Tiếng sợi xích. Nhưng không phải kéo qua khuyên như mọi lần. Tiếng nó rơi. Cả sợi xích sắt rơi xuống bậc hiên gạch, mắt này đè lên mắt kia, loảng xoảng một hồi rồi im. Rồi tiếng ổ khoá rơi theo, một tiếng cạch khô, lăn hai vòng, dừng.
Rồi tiếng cửa bức bàn mở. Không kêu. Tôi chỉ nghe tiếng không khí trong sân đổi, lạnh hơn, có mùi cơm mới và mùi cá kho riềng tràn qua kẽ cửa sổ gian tôi.
Và từ trong ấy, một giọng gọi ra. Không phải giọng khàn của bà Cả. Giọng này tôi nghe suốt mười bảy năm, mỗi chiều, từ cái bếp dầu trong căn phòng tập thể mười sáu mét vuông, lúc tôi mải chơi ngoài sân.
"Hoài ơi. Về ăn cơm."