Chương 11: Người bày cỗ
Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem
Đêm ấy tôi không sang. Tôi nằm, hai tay đè lên tờ giấy trên ngực, nghe tiếng gọi lặp lại ba lần, mỗi lần cách nhau rất lâu, rồi thôi. Không ai sang kéo tôi đi. Không ai giận. Chỉ là giọng gọi lần thứ ba nhỏ hơn lần đầu, như người gọi đã quen với việc gọi mà không có ai thưa.
Sáng ra sân đầy sương. Sợi xích nằm trên bậc hiên, ổ khoá lăn ở góc. Hai cánh cửa bức bàn mở hé một khoảng bằng thân người. Bên trong tối, trống, phản gỗ không chiếu, không mâm, không đèn. Bụi phủ dày trên mặt phản, trừ một vòng tròn sạch bằng cái mâm đồng.
Bác Cần đứng ở hiên nhà mình nhìn sang, tay cầm bát hương chuẩn bị cho đám mẹ.
"Cửa mở rồi thì không khoá lại được. Người mở mới khoá được."
Tôi hỏi ai mở.
Bác nhìn tôi. Rồi bác quay vào trong rạp.
* * *
Đám cụ Tư ba ngày. Tôi đi sau quan tài cùng con cháu nhà bác Cần, đội khăn trắng, vì bác Nhàn bảo cô là người nhà. Tôi không cãi.
Sau đám, tôi không về thành phố. Tôi gọi cho mẹ bảo con ở lại dạy, trường thiếu người. Mẹ bảo ừ. Lần này mẹ không im lâu trước khi bảo ừ. Tôi nghĩ mẹ đã quen với việc tôi không nói, như bà ngày xưa.
Ra Giêng tôi dọn nhà thờ. Tôi bước qua ngưỡng cửa trước, một mình, buổi sáng, trời có nắng. Không có gì xảy ra. Gạch nền lạnh, mùi bụi và mùi gỗ lim cũ, mùi hương tàn ngấm vào cột. Bàn thờ còn nguyên bài vị, bát hương đầy chân nhang mủn. Tôi đứng giữa gian một lúc rồi gọi bác Nhàn. Bác và mấy chị em chi dưới mới dám vào theo.
Quét được nửa buổi thì tôi thấy nó. Trên mặt phản, ở mép vòng tròn sạch chỗ cái mâm đã đặt, ngay vị trí mép mâm quay ra cửa, có một thanh bạc nhỏ, đầu cong như móc câu, đen xỉn.
Cây trâm của bà tôi. Hay của bà Cả. Tôi không còn phân biệt được nữa.
Tôi nhặt lên. Nó ấm. Tôi cầm nó trong lòng bàn tay cả buổi quét, không cất đi đâu, và đến chiều thì tôi cài nó lên búi tóc. Bác Nhàn nhìn thấy, không nói gì, chỉ sửa lại cho ngay.
* * *
Tiếng bát bên nhà thờ dứt hẳn từ đêm cửa mở. Bữa tối, tôi đặt bát xuống mâm, không có tiếng gì đáp. Tôi tưởng mình sẽ nhẹ người. Nhưng cái im ấy nặng hơn tiếng cạch nhiều. Tiếng cạch là có người bên kia ăn cơm. Im là bên kia đang chờ.
Tôi đổi lớp dạy. Mẹ cái Nụ xin cho con về lại lớp tôi, bảo cháu nó nhớ cô. Người làng chào tôi ngoài ngõ, kiểu chào người trong làng, không phải chào cô giáo trọ. Cô hiệu trưởng không nhắc chuyện chuyển trường nữa. Tôi cũng không.
Tháng Tám, bác Cần không ra trường xin chỗ ở cho giáo viên mới. Tôi hỏi, bác bảo hết việc rồi.
* * *
Giỗ bà Cả năm sau rơi vào đầu tháng Mười Hai dương lịch. Bác Nhàn làm cỗ từ trưa, nhưng năm nay bác không bưng sang hiên. Bác đặt mâm xuống bàn bếp, lùi lại, nhìn tôi.
Tôi bưng.
Tôi bước qua ngưỡng cửa nhà thờ, đặt mâm lên phản, trải chiếu hoa tôi mua ở chợ Cồn. Tôi thắp đèn dầu ở góc phản. Tôi xới cơm.
Tôi đếm trong đầu trước khi xới. Cụ Khải. Bà Cả. Ông Tích. Ông Tụy. Bà tôi.
Năm bát cho người đã về. Một bát cho tôi. Sáu bát. Tôi bày sáu đôi đũa, gác ngang.
Tôi khép cửa bức bàn lại từ bên trong, cài then. Lần đầu tiên sau hai mươi năm cái then ấy được cài từ phía trong.
Tôi ngồi xuống mép phản, đúng chỗ người đàn bà đã ngồi đêm ba mươi. Tôi cầm đôi đũa, dựng đứng, gõ xuống mâm đồng. Đến tiếng thứ ba thì có một đôi đũa khác gõ cùng, ở bên trái tôi, lệch nửa nhịp, như người lớn gõ kèm cho đứa trẻ mới tập.
Rồi tôi cúi xuống bát của mình và ăn.
Tôi không ngẩng lên suốt bữa. Tôi không nhìn ai. Nhưng chiếu lún xuống bên trái tôi, rồi bên phải. Có tiếng đũa chạm miệng bát quanh tôi, lách cách, năm người, nhiều người. Có tiếng múc canh. Có một bàn tay gầy đặt lên vai tôi một lúc rồi rút đi, bàn tay ấm, và mùi dầu gió.
Có người nói chuyện, lên xuống, hỏi, đáp, cười, tất cả bị nghẹn trong một lớp dày. Tôi ăn hết bát của mình. Tôi đặt bát xuống, úp lại, gác đũa lên.
Quanh tôi, lần lượt, từng tiếng một, bát úp xuống mâm. Tôi đếm. Năm.
Tôi ngẩng lên.
Năm cái bát úp quanh mâm. Bát của tôi thì không. Cái bát tôi vừa ăn hết, vừa úp xuống bằng chính tay mình, giờ nằm ngửa ở mép mâm quay ra cửa. Cơm xới có ngọn. Đôi đũa của tôi gác ngang miệng bát.
Tôi đưa tay chạm vào thành bát. Ấm.
* * *
Đèn dầu tắt lúc tôi còn đang ngồi đó. Tôi không đứng lên tìm diêm. Tôi ngồi trong bóng tối, tay vẫn ấp vào bát cơm của mình, nghe hơi ấm của nó đi vào lòng bàn tay, đều, không nguội.
Lúc trời xám, tôi đứng dậy dọn, trước khi có ai kịp ghé mắt vào khe cửa. Năm cái bát úp tôi xếp vào rổ. Riêng bát của mình, tôi để lại trên phản.
Tôi xoay nó cho quay ra cửa.
* * *
Sáng nay mẹ gọi cho tôi. Mẹ bảo Tết này mẹ xuống. Mẹ muốn xem gian nhà ấy, muốn thắp cho bà một nén hương ở nơi bà sinh ra. Giọng mẹ vui. Mẹ bảo mẹ chưa về quê bao giờ.
Tôi bảo vâng.
Bữa nào tôi cũng xới thêm một bát, để ở mép mâm, quay ra cửa. Tết này mẹ xuống, mẹ sẽ xoay nó vào. Tôi sẽ lại xoay ra.