Chương 4: Bát thứ năm
Khoảng 4 phút đọc·4lượt xem
Sáng hôm sau tôi không đi dạy. Tôi nhờ cô Thuỷ trông lớp hộ, nói là cảm. Tôi ngồi ở bậc hiên nhà bác Cần từ lúc trời còn xám, chờ bác Nhàn dậy.
Bác Nhàn ra, thấy tôi, không hỏi gì. Bác bưng mâm cỗ hôm qua từ hiên nhà thờ về, con gà đã se mặt, xôi đã cứng. Bác đổ cả vào cái rổ cho lợn, không giữ lại miếng nào. Rồi bác ngồi xuống cạnh tôi.
Tôi kể. Kể hết, từ tiếng so đũa cho đến cái bát bị đẩy về phía cửa. Bác Nhàn nghe, mặt không đổi, chỉ có hai bàn tay đan vào nhau trong lòng, siết chặt dần.
"Cô đếm được mấy bát?"
Tôi bảo sáu. Năm úp, một ngửa.
Bác Nhàn ngừng thở một lúc. Tôi nghe rõ, vì bác đang ngồi sát tôi, và vì lúc ấy sân vắng đến mức tôi nghe được cả tiếng chuỗi hạt của cụ Tư ở gian bên lần từng viên.
"Mọi năm có năm. Bốn úp, một ngửa."
* * *
Bác Nhàn kể cho tôi chuyện mà cả làng Trà Trung biết, mà không ai kể cho người ngoài.
Chi trưởng họ Trần Đình đời gần nhất là cụ Khải, mất năm sáu hai. Vợ cụ là bà Cả, người làng gọi thế vì cụ Khải có hai vợ, nhưng bà hai bỏ đi từ sớm, không ai tính. Bà Cả sinh ba người con. Hai trai là ông Tích và ông Tụy. Một gái, út, tên Mơ.
Năm năm tư, cô Mơ mười bảy tuổi. Làng bên có người bỏ vào Nam rất nhiều, thuyền đi từ bãi ngang cả tháng. Cô Mơ bỏ nhà đi một đêm tháng Tám, không nói với ai. Người làng đồn đủ thứ. Chỉ chắc một điều là cô không về.
Bà Cả không khóc. Từ giỗ năm ấy, bà bày thêm một bát trên mâm cỗ. Bát ấy xới đầy, đũa gác ngang, đặt ở mép mâm quay ra cửa, để con về là ngồi xuống ăn được ngay. Giỗ nào cũng thế. Tết nào cũng thế. Hai mươi lăm năm. Bà mất năm bảy chín, mâm cỗ cuối cùng bà bày là mâm tất niên, bát thừa vẫn quay ra cửa.
"Ông Tích hy sinh năm bảy hai, trong Quảng Trị, không có mộ. Ông Tụy ở lại trông nhà thờ, không vợ con, mất năm tám sáu. Chôn ông xong, họ khoá cửa."
Tôi hỏi, thế ai bày cỗ bên trong.
Bác Nhàn nhìn ra cái cửa bức bàn đóng kín bên kia sân.
"Năm tám bảy, giỗ đầu sau hôm khoá, tôi bưng mâm sang. Đêm ấy... cả nhà nghe. Bát đũa lách cách trong ấy. Sáng ra ông nhà tôi ghé mắt vào khe cửa. Trên phản có mâm, bốn bát úp, một bát ngửa, đầy."
Bốn bát úp là cụ Khải, bà Cả, ông Tích, ông Tụy. Bát ngửa là bát của cô Mơ.
"Mười tám năm, giỗ nào cũng thế. Bốn úp. Sáng hôm sau nhìn vào thì phản lại trống trơn. Năm nay... năm úp."
Bác Nhàn quay sang tôi. Mắt bác không sợ. Mắt bác buồn, cái buồn của người làng kể chuyện người làng.
"Thế là có người về với các cụ rồi. Ai thì tôi chịu. Đâu đó, năm nay. Mà cái bát ngửa vẫn còn. Còn người chưa về, cô ạ."
* * *
Tôi về gian nhà ngang, nằm xuống, nhìn lên mái ngói. Tôi nghĩ đến bà tôi. Bà mất tháng Ba, chôn ở nghĩa trang thành phố, đám tang có mấy bà cùng tổ dệt ngày xưa đến thắp hương. Tôi nghĩ đến bà rồi gạt đi. Năm nào chả có người chết. Bà tôi tên Mai, quê mạn biển, cả cái dải biển Nam Định này dài mấy chục cây số, bao nhiêu xã, bao nhiêu họ.
Tôi gạt đi, và tôi để ý mình đã gạt đi hơi nhanh.
Chiều tôi dậy, ra bể nước mưa rửa mặt. Cụ Tư ngồi ở hiên, nghe tiếng gàu, gọi.
"Cô giáo đấy à. Đêm qua cô có ngủ không?"
Tôi thưa có.
"Nói dối. Tôi nghe cô ra sân. Chân trần. Đi về phía bên ấy, đứng lâu lắm."
Tôi im. Cụ Tư lần hạt, mắt loà hướng về phía nhà thờ, nói tiếp như nói với chính mình.
"Bà Cả ngày xưa cũng hay ra sân đêm như thế. Đứng chỗ cô đứng. Chờ."
* * *
Tối ấy tôi vẫn nấu cơm. Người ta phải ăn. Tôi khép cửa sổ, kê mâm dưới nền, xới một bát. Tôi cầm đôi đũa lên, định so, rồi dừng lại. Tay tôi đang run, run đến mức hai chiếc đũa va vào nhau lách cách.
Tôi để đũa xuống. Tôi không so nữa. Tôi ăn bằng đũa lệch đầu.
Bên nhà thờ im suốt bữa. Tôi ăn xong, đặt bát xuống mâm, chờ tiếng cạch quen thuộc. Không có. Tôi ngồi chờ thêm. Vẫn không.
Rồi có tiếng khác. Ba tiếng gõ xuống mặt mâm đồng. Đều, chắc tay, cách nhau đúng bằng khoảng cách tôi vẫn gõ. Người bên ấy đang so đũa.
Người bên ấy so đũa hộ tôi.