Chương 5: Gõ ba tiếng so đũa
Khoảng 4 phút đọc·4lượt xem
Cô Thuỷ bảo trong làng còn một người biết chuyện họ Trần Đình từ trước năm năm tư, là ông giáo Thịnh. Ông dạy bình dân học vụ ở Trà Trung từ hồi mới giải phóng, rồi dạy cấp một đến lúc về hưu, học trò cả làng. Nhà ông ở cuối xóm, sát đình, có giàn mướp và một cái ao nhỏ.
Chủ nhật tôi đến. Ông giáo ngoài tám mươi, lưng còng, tai còn thính, mắt còn đọc được báo. Ông ngồi trên cái chõng tre ngoài hiên, nghe tôi nói tôi là cô giáo mới về trường thì vui, pha nước vối. Nghe tôi hỏi về nhà thờ họ Trần Đình thì ông đặt ấm xuống.
"Cô ở gian nhà ngang nhà ông Cần?"
Tôi thưa vâng.
"Thế thì cô hỏi là phải. Ở đấy mà không hỏi mới lạ."
* * *
Ông giáo kể bằng giọng của người đã nhớ việc ấy suốt năm mươi năm mà chưa có ai để kể.
Năm năm tư ông hai mươi tư tuổi, dạy lớp xoá mù buổi tối ở đình. Cô Mơ học lớp ấy. Mười bảy tuổi, con gái út nhà chi trưởng, nhưng cụ Khải không cho con gái đi học sớm, nên cô mới đến lớp bình dân. Cô học nhanh nhất lớp, chữ tròn, hay cười, nói to.
"Con bé ấy có cái răng khểnh bên trái. Cười là lộ."
Tôi không nói gì. Tôi có cái răng khểnh bên trái. Mẹ tôi bảo giống bà.
Ông giáo kể tiếp. Mùa thu năm ấy làng Phúc Hải bên cạnh, làng đạo, người ta bỏ vào Nam từng đoàn. Có một người trai làng ấy tên Thiện, hay sang Trà Trung bán lưới, quen cô Mơ từ hồi còn bé. Nhà Thiện đi đợt tháng Tám, xuống thuyền ở bãi ngang ra Hải Phòng để lên tàu lớn. Đêm nhà Thiện đi là đêm cô Mơ mất tích.
"Cụ Khải cho người đuổi ra tận Hải Phòng. Muộn, tàu nhổ neo rồi. Rồi thì... người bảo thấy đứa giống nó ở bến Sáu Kho, người bảo nó quay về đến Nam Định thì mất hút. Người bảo chết đuối ngoài bãi, đêm ấy sóng to, thuyền nan lật mấy cái."
Tôi hỏi bà Cả tin cái nào.
"Bà Cả không tin cái nào. Bà bảo nó còn sống. Bà bảo cơm trong bát của nó nguội chậm."
Ông giáo nhìn tôi, thấy tôi không hiểu, giải thích. Người làng ở đây tin thế. Bát cơm cúng mà cúng cho người đã chết thì nguội nhanh, người chết ăn hết hơi. Cúng cho người còn sống ở xa thì nguội chậm, vì hơi còn ở trên bát, chờ. Hai mươi lăm năm bà Cả bày bát thừa, bát nào bà cũng sờ sau khi tàn hương, và bát nào cũng còn ấm.
"Cô bé ấy sống dai thật. Năm nay là năm mươi mốt năm."
Tôi nghĩ đến bát cơm bốc hơi sau kẽ cửa, và không nói gì.
* * *
Lúc tôi đứng lên xin về, ông giáo giữ tôi lại, hỏi một câu không liên quan.
"Cô ăn cơm có so đũa không?"
Tôi bảo có.
"Gõ mấy cái?"
Tôi nói ba. Tay tôi cầm cái nón, và tôi thấy ngón tay mình trắng ra trên vành nón.
Ông giáo gật, như xác nhận một việc ông đã biết.
"Nhà chi trưởng bên ấy... gõ ba cái. Từ cụ Khải trở lên. Cụ bảo một tiếng nhớ tổ, một tiếng nhớ cha mẹ, một tiếng nhớ mình là ai. Con Mơ ăn ở đâu cũng gõ, đám bạn trêu mãi. Làng này không ai gõ thế. Vuốt đũa thôi."
Tôi nói bà tôi dạy tôi. Bà tôi người mạn biển.
"Mạn biển nào?"
Tôi bảo tôi không biết. Ông giáo không hỏi thêm. Ông tiễn tôi ra cổng, đứng dưới giàn mướp nhìn theo. Lúc tôi đi được một quãng, ông gọi với.
"Cô giáo này. Cửa ấy... không có chìa đâu. Chôn theo ông Tụy rồi. Nhưng bức bàn thì cài then trong. Khoá ngoài là khoá người ngoài. Người trong muốn ra thì ra."
* * *
Tôi về đến nhà lúc nắng đã đứng bóng. Nắng hanh, sân trắng, cụ Tư ngủ gật trên ghế mây. Cửa gian nhà ngang tôi khoá bằng khoá bấm, chìa trong túi áo tôi.
Tôi mở cửa.
Trên bàn, chỗ tôi đã dọn sạch từ tối qua, có một cái mâm. Mâm của tôi, cái mâm nhôm tôi cất dưới gầm giường. Trên mâm là một cái bát của tôi, úp ngược lại, và một đôi đũa của tôi, so bằng đầu, gác ngay ngắn trên đít bát.
Kiểu người ăn xong lịch sự úp bát lại để báo mình đã no.
Cái mâm được kê sát cửa sổ. Cửa sổ tôi đã cài then từ tối qua, then vẫn cài. Nhưng mâm được đặt quay về bên ấy, hướng ra hiên nhà thờ, đúng cái hướng bác Nhàn dặn tôi đừng bao giờ để mâm cơm quay sang.
Tôi đứng ở cửa, không bước vào. Tôi đếm bát trên mâm. Một bát. Úp.
Rồi tôi nhìn kỹ, và thấy mình đếm thiếu. Dưới cái bát úp, có kê một cái bát nữa. Ngửa. Khô, sạch, không có cơm.
Chưa có cơm.