Chương 8: Đào chỗ giữa
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Đội đào thứ ba, thứ tư, thứ năm.
Quân làm đúng cách quy tập. Hố rộng hai thước vuông quanh bốn cái cọc, đào bằng xẻng nhỏ, từng lớp hai mươi phân, mỗi lớp quét máy dò một lượt, cát đổ ra sàng qua lưới sắt. Người xử lý ngồi cạnh. Hạnh để hộp cứu thương mở sẵn. Tôi ngồi ở miệng hố, không được xuống, Quân nói tay chú còn băng.
Ngày thứ ba, sâu một thước. Một vỏ đạn pháo bằng đồng dài bằng cánh tay, mấy mảnh gang của bom bi, một đoạn dây kẽm gai. Không có gì khác. Quân cho đào tiếp.
Ngày thứ tư, một thước hai. Cát ẩm chuyển màu xám. Một cái cúc áo nhựa màu xanh. Một đoạn dây dù mục. Một mảnh vải bố.
Lâm cầm từng thứ lên cho tôi xem, tôi lắc đầu. Mấy thứ đó của ai cũng có thể là. Hơn hai mươi người nằm lại trảng này.
Ông ấy đứng ở miệng hố, đối diện tôi, suốt ba ngày.
Không chỉ xuống hố. Tay chỉ của ông ấy buông thõng từ đêm tôi gọi tên. Chỉ đứng, đầu cúi, tay trái áp bụng. Như người đứng xem người ta đào mà không muốn giục.
* * *
Chiều ngày thứ tư, Quân gọi tôi ra xa mái bạt.
"Chú Thiện. Cháu tin chú. Nhưng một thước hai rồi, máy không kêu, sàng không ra. Cát trảng này mỗi năm bay đi mấy phân, ba mươi năm trước mặt cát khác bây giờ nhiều. Có thể người ta nằm sâu nữa. Có thể nằm lệch sang bên. Cháu không có người để đào hết khoảng giữa."
Tôi hỏi, vậy đội định sao.
"Mai đào thêm một ngày. Tới một thước rưỡi. Không có thì cháu báo huyện cho đội quy tập về sau, còn tụi cháu phải đi băng tiếp, kế hoạch tỉnh giao hết tháng là xong trảng này."
Tôi nói được. Tôi không nói gì thêm. Tôi nhìn qua vai Quân vào chỗ miệng hố, nơi ông ấy đứng, và thấy ông ấy đã đi khỏi đó.
Ông ấy đứng ở gốc dương cụt. Tay phải lại duỗi thẳng. Chỉ xuống. Nhưng không chỉ xuống chân mình. Chỉ nghiêng, chỉ về phía cái hố, theo một đường thẳng từ gốc dương tới hố, như người ta chỉ một con đường.
Tôi hiểu ra. Tôi đứng dậy, đi tới gốc dương, rồi đi từ gốc dương về phía hố, đếm bước. Bước của tôi năm mươi tuổi, trên cát lún. Mười một bước thì tới mép hố. Mười hai bước rơi vào trong hố, nhưng ở mép xa, phía bắc, sát vách.
Hố đào của Quân lấy tâm là chỗ Lâm ngã. Chỗ Lâm ngã là chỗ ông ấy đứng. Nhưng người bò bằng đầu gối trên cát, bò tới đó rồi còn vươn thêm được nửa thân người nữa mới gục. Đầu về phía bắc. Chân về phía gốc dương. Người ta đứng ở chỗ chân mình, không đứng ở chỗ đầu mình.
Tôi nói với Quân, mai mở rộng hố về phía bắc một thước. Quân hỏi sao chú biết. Tôi nói, tôi là công binh, tôi đếm bước.
* * *
Đêm ấy tôi không ra trảng. Lành ngồi với tôi ở hiên tới khuya, không ai nói gì. Chó không sủa. Cổng không có ai.
Nhưng tôi không ngủ được. Hai giờ sáng tôi dậy, lấy đèn pin, thay pin mới, lấy cái xẻng nhỏ. Lành nghe tiếng, ra hiên.
"Ông đi đâu."
Tôi nói, đêm bảy hai tôi để nó nằm một mình ở đó. Đêm nay là đêm cuối nó nằm đó. Tôi không để nó nằm một mình nữa.
Lành không cản. Bà vào nhà lấy cho tôi cái áo khoác và gói muối.
* * *
Tôi tới trảng lúc gần ba giờ. Trăng khuyết lên muộn. Hố đào phủ bạt, chặn bằng mấy khúc gỗ. Tôi kéo bạt ra, bật đèn, soi xuống. Cát xám ẩm, phẳng, vách hố in dấu xẻng.
Ông ấy đứng dưới hố. Đứng ở mép bắc, sát vách, chỗ bước thứ mười hai. Đầu cúi. Tay phải chỉ xuống chân mình.
Tôi tụt xuống hố. Tôi quỳ cạnh ông ấy, gần tới mức nếu ông ấy là người, hơi thở ông ấy đã chạm vào tôi. Không có hơi thở. Chỉ có mùi cát ẩm và tiếng ù trong tai trái, đều, nhỏ, như người thở dốc đã lâu nên quen.
Tôi đào bằng xẻng vào vách bắc, ngay dưới chỗ ông ấy chỉ. Cát sạt xuống từng mảng. Tôi đào được chừng ba mươi phân vào vách thì xẻng chạm một thứ không phải cát, không phải sắt. Tiếng khô, nhẹ, như gõ vào vỏ dừa.
Tôi đặt xẻng xuống, dùng tay. Tôi gạt cát ra. Dưới ánh đèn pin là một vật cong, màu nâu xám, nằm úp. Một chiếc dép cao su. Quai còn nguyên. Loại dép bộ đội, cỡ chân nhỏ.
Tôi cầm chiếc dép lên, soi đèn, lật qua lật lại. Không phải dép của tôi. Dép của tôi quai trái buộc dây thép. Chiếc này nguyên vẹn, cỡ chân nhỏ hơn chân tôi hai phân. Cỡ chân Phú.
Tôi gạt thêm cát ở chỗ chiếc dép vừa nằm.
Bên dưới là những ngón chân.